| CUỘC HÀNH QUÂN CỦA NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG |
Viết bởi nguyensan 15:03 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (1) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Ghi chép |
|
Chương trình "Thăng Long - Hồn thiêng sông núi": Cuộc hành quân của những Anh hùng "Thăng Long- Hồn thiêng sông núi" là Chương trình đón 1.000 Anh hùng, Mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu trong thời đại Hồ Chí Minh từ 63 tỉnh, thành của cả nước về Thủ đô dự Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đây là việc làm tri ân đối với những người Anh hùng, bởi họ là một phần của hồn thiêng sông núi. Trong thư gửi Ban tổ chức chương trình, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã viết: "Tôi được biết Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Tập đoàn Mai Linh và nhiều cơ quan, đơn vị trong cả nước đang tích cực tổ chức đoàn đại biểu 1.000 anh hùng, Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng và nhiều tướng lĩnh tiêu biểu thời đại Hồ Chí Minh về dự dự Đại lễ 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội. Đây là một chương trình có ý nghĩa trong ngày lễ lớn của dân tộc". Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng đã nhận xét: "1.000 Anh hùng và tướng lĩnh tụ họp về Hà Nội trong dịp Thủ đô tròn 1.000 năm tuổi là cơ hội để chúng ta ôn lại truyền thống xa xưa, biểu thị lớn mạnh, hùng cường của dân tộc, để lớp lớp con cháu nối tiếp truyền thống vẻ vang". Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong thư gửi các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, ngày 10-10- 2009, đã khẳng định: “Đây là dịp để tôn vinh các bậc tiền bối đã có công dựng nước, giữ nước; đã sáng lập, giữ gìn và phát triển kinh đô Thăng Long xưa- Thủ đô Hà Nội ngày nay; đồng thời để giáo dục truyền thống- lịch sử- cách mạng cho quân và dân ta”. Đại tướng còn căn dặn: “Ban Tổ chức cần phải có kế hoạch thật cụ thể, thật tỷ mỷ để việc tổ chức được vui vẻ, đoàn kết, chu đáo, an toàn, góp phần tiếp lửa truyền thống cho thế hệ trẻ để xây dựng Thủ đô và Tổ quốc ta ngày càng giàu đẹp, văn minh”. Thông điệp 1.000 từ của 1.000 Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh gửi thế hệ trẻ là những ước mong cháy bỏng: “Thế hệ chúng tôi mong muốn thế hệ trẻ hiện nay và mai sau hãy tôn trọng quá khứ hào hùng của dân tộc, hãy xứng đáng với thế hệ đi trước, tiến vào khoa học kỹ thuật, hội nhập quốc tế để xóa đi nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nước ta ngày càng giàu đẹp, văn minh, luôn luôn cảnh giác cách mạng, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền văn hóa của dân tộc”. Cuộc hành quân của những Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh sẽ xuất phát từ Đồng Tháp bằng đường bộ và qua các tỉnh qua 26 tỉnh, thành để hội tụ về Hà Nội. Trong quá trình hành quân sẽ tổ chức 7 cuộc giao lưu giữa đại biểu Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng với các nhân chứng lịch sử và liên hoan văn nghệ hướng về Thủ đô ngàn năm văn hiến. Cuộc giao lưu tại Đồng Tháp - nơi có mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc - có chủ đề: "Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ". Cuộc giao lưu tại thành phố mang tên Bác với chủ đề "Miền Nam thành đồng Tổ quốc/ Ngìn năm thương nhớ đất Thăng Long". Tại Gia Lai, giao lưu với chủ đề "Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên"; tại Đà Nẵng với chủ đề "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, tại thành phố Vinh - Nghệ An với chủ đề "Bác Hồ- Người là niềm tin tất thắng"... tất cả đã được sự hưởng ứng nồng nhiệt của đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương. Theo kế hoạch, chiều ngày 6- 10, Đoàn các Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh sẽ "hội quân" trên đất Tổ Hùng Vương để sáng mùng 7 tiến hành Lễ dâng hương tưởng niệm các vua Hùng, dâng hoa trước Phù điêu Bác Hồ nói chuyện với chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong. 20 giờ cùng ngày, tại Bảo tàng Hùng Vương ở thành phố Việt Trì sẽ diễn ra giao lưu với chủ đề: "Các vùa Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đây là cuộc hội tụ đông đảo nhất của 1.000 Mẹ Việt Nam Anh hùng và Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh tham gia chương trình Thăng Long: Hồn thiêng sông núi, bởi Phú Thọ cũng là điểm đến đầu tiên của đầy đủ các thành viên đến từ các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Đông Bắc, Tây Bắc của Tổ quốc. Để đón tiếp và tổ chức các nội dung của đoàn tại Phú Thọ, UBND tỉnh đã thành lập Ban tổ chức đón tiếp, giao lưu và chỉ đạo việc chuẩn bị của Hội Cựu chiến binh tỉnh, Công ty Mai Linh Phú Thọ và các cơ quan, địa phương đơn vị để đảm bảo thành công của Chương trình, để lại ấn tượng tốt đẹp cho những Anh hùng về thăm đất Tổ. Giao nhiệm vụ cho các thành viên Ban Tổ chức, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Kim Hải nhắc nhở: Đây là việc làm để thiết thực tôn vinh, tri ân các thế hệ anh hùng, liệt sĩ có công dựng nước và giữ nước; khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí cách mạng quật cường của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; thể hiện lòng hiếu khách của người Phú Thọ. Dự phiên họp cuối cùng của Ban Tổ chức tỉnh Phú Thọ trước khi đoàn về đất Tổ, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Mai Linh Đông Bắc Bộ - ông Nguyễn Mai Lâm- nhận xét: Chúng tôi xúc động vì sự vào cuộc cụ thể, trách nhiệm của tỉnh Phú Thọ. Hy vọng thời gian lưu lại trên đất Tổ Hùng Vương sẽ là dấu ấn khó quên đối với mỗi người mẹ Anh Hùng và mỗi Anh hùng. Sáng ngày 8- 10, đoàn sẽ xuất quân về Hà Nội để buổi tối tham gia giao lưu "Thăng Long- Hồn thiêng sông núi. Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người". Sáng mùng 9 Đoàn vào Lăng viếng và báo công với Bác, cử đại biểu đến chào Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tham quan một số địa danh lịch sử tại Hà Nội; buổi tối đoàn tham gia Đêm hội tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình; sáng ngày 10-10 đoàn sẽ dự Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội. Vẫn như người chiến sĩ xông pha trận mạc năm xưa, vẫn là các bà mẹ Việt Nam bình dị "hạt lúa củ khoai, bền bỉ nuôi chồng, nuôi con đánh giặc", 1.000 công dân Anh hùng của Tổ quốc anh hùng tham gia chương trình "Thăng Long- Hồn thiêng sông núi" lại hành quân. Nhưng đây không phải là cuộc hành quân ra tiền tuyến, cũng không phải hành quân tiễn biệt người thân ra mặt trận mà là hành quân kết nối những bước hành quân truyền thống, qua những địa danh lịch sử để tụ hội về Hà Nội - Thủ đô văn hiến, anh hùng. Những chiếc xe xanh màu xanh sự sống của Tập đoàn Mai Linh sẽ đưa những người anh hùng về “thành phố vì hòa bình” tròn nghìn năm tuổi. Nguyễn Sản
|
| LỐI NHỎ THÀNH ĐƯỜNG LỚN |
Viết bởi nguyensan 14:35 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Chung |
|
 Lối nhỏ thành đường lớn NGUYỄN SẢN Cách đây hơn 9 năm, Kiều Đức Thuận nhận giấy phép kinh doanh xe máy cho Công ty TNHH Thương mại- Dịch Vụ Việt Lâm của mình. Chàng trai tuổi Giáp Dần ghép tên thành phố Việt Trì - nơi anh khởi nghiệp với huyện Lâm Thao - quê hương của mình, thành Việt Lâm làm tên gọi cho doanh nghiệp trẻ. Khởi nghiệp chỉ với một cửa hàng bán xe máy và 6 cán bộ, nhân viên nhưng do bền bỉ tạo dựng cơ nghiệp, năng động mở hướng làm ăn, đến nay, Việt Lâm đã có một chuỗi công ty, cửa hàng kinh doanh phát đạt, gồm 2 công ty, 7 cửa hàng, 72 đại lý ở Phú Thọ và 6 tỉnh miền núi phía Bắc. Từ "lối nhỏ" ban đầu, sau 9 năm, Việt Lâm đã vươn ra "đường lớn", trở thành "Doanh nghiệp tiêu biểu Đất Tổ" năm 2010. Là đại lý ủy nhiệm bán hàng và dịch vụ chính thức cho các hãng sản xuất xe máy YAMAHA, SUZUKI, SYM, KYMCO và đại lý phân phối độc quyền sản phẩm Shell gas, Petro Việt Nam, doanh thu của Việt Lâm tăng trưởng dần từng bước vững chắc: Nếu như năm đầu kinh doanh nới đạt doanh số 17 tỷ đồng, thì năm 2008 công ty đạt 38 tỷ đồng, năm 2009 là 66 tỷ, và đến nay đã đạt trên 70 tỷ đồng của kế hoạch doanh thu trên 100 tỷ của năm 2010. Kinh doanh sản phẩm hàng hóa của các hãng sản xuất có uy tín, dịch vụ sau bán hàng chu đáo, tận tình, Việt Lâm đã trở thành một trong số 20 đại lý tốt nhất của YAMAHA, một trong số 10 đại lý tốt nhất của SYMâtị Việt Nam với trên 10 nghìn xe máy được bán ra hàng năm. Từ một doanh nghiệp nhỏ còn ít người biết tới, đến nay, Công ty TNHH Việt Lâm trở thành một doanh nghiệp được đánh giá thang điểm khá cao về hiệu quả kinh tế - xã hội; chấp hành chính sách, pháp luật; năng lực cạnh tranh; cơ cấu quản lý, điều hành và phát triển doanh nghiệp theo tiêu chí xét bình chọn doanh nghiệp tiêu biểu của tỉnh Phú Thọ năm 2010. Việt Lâm đã trở thành một trong những thương hiệu mạnh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại- dịch vụ. Tiếp tục mở rộng kinh doanh, sau khi thắng thầu quyền sử dụng lô đất có diện tích trên 600 m2, nằm ở vị trí đắc địa vốn là trụ sở làm việc của UBND phường Tiên Cát - Việt Trì, Công ty TNHH Việt Lâm đã đầu tư 60 tỷ đồng xây dựng siêu thị điện máy quy mô lớn, trang bị hiện đại. Đến nay, siêu thị đã hoàn tất phần xây dựng cơ bản và trang thiết bị nội thất, nhập các mặt hàng điện máy, điện tử như ti-vi, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, máy giặt, bình nước nóng, thiết bị nghe - nhìn, điện thoại, máy ảnh, Camera kỹ thuật số, máy phát điện, dụng cụ cơ khí cầm tay, đồ gia dụng... của 28 hãng sản xuất điện máy, điện tử trong và ngoài nước. Trao đổi về lợi thế của siêu thị điện máy Việt Lâm Plaza, giám đốc Kiều Đức Thuận khẳng định cùng phóng viên như một lời cam kết với khách hàng những điều tâm huyết: Ngoài thuận lợi về địa điểm, hạ tầng kỹ thuật như có 1800 m2 mặt bằng, thiết kế kiến trúc hiện đại, có cầu thang cuốn, hệ thống chiếu sáng...; lợi thế lớn nhất của chúng tôi là hàng hoá có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, nhập thẳng từ các nhà sản xuất có uy tín, không qua các tầng nấc trung gian để bán lẻ cho người tiêu dùng nên chắc chắn giá cả sẽ hợp lý, chất lượng sẻ đảm bảo. Phát triển kinh doanh, Việt Lâm đã tạo nhu cầu để góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Chuẩn bị cho bước khởi động của "điểm nhấn" siêu thị điện máy có quy mô lớn, hiện đại nhất khu vực Tây Bắc, công ty đã tuyển dụng 120 lao động để đào tạo các nghiệp vụ cần thiết như kế toán, bán hàng, thu ngân, dịch vụ sau bán hàng; nâng tổng số cán bộ, nhân viên toàn công ty lên 232 người - một con số cũng khá ấn tượng trong vấn đề giải quyết việc làm xã hội hiện nay. Về hướng phát triển của Công ty TNHH Việt Lâm, giám đốc Thuận - doanh nhân tiêu biểu đất Tổ năm 2010, chia sẻ: Ngoài việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cho thị trường trong tỉnh, chúng tôi đang mở rộng mạng lưới kinh doanh bán buôn đến các tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái... Sau khi siêu thị điện máy Việt Lâm Plaza ở Việt Trì hoạt động ổn định, từ giữa năm 2011, chúng tôi sẽ mở thêm 1 trung tâm kinh doanh tại Vĩnh Phúc. Kiều Đức Thuận tuổi Giáp Dần, theo sách tử vi là người có mệnh “đại khê thủy”, có nghĩ là “nước trong khe”, có khả năng tạo mạch nguồn cho sông cả, biển lớn. Tuổi Dần như Thuận lại có bên mình nội tướng tuổi Nhâm Tuất – trưởng nữ của giám đốc doanh nghiệp Vàng bạc Nam Thành - người đang sở hữu cây sanh “mâm xôi con gà” đáng giá - hậu thuẫn thì "thành vững, lũy bền". Xưa nay, người ta vẫn coi tuổi Hổ vướng vào nghiệp kinh doanh như người đã cưỡi lên lưng hổ, chỉ có thể phải chinh phục, mà không có sự lựa chọn nào khác. Tôi thấy điều này có lẽ cũng đúng với Thuận, bởi doanh nhân 36 tuổi này đang ấp ủ một kế hoạch dài hơi là phấn đấu đến năm 2015 sẽ xây dựng và đưa vào hoạt động ít nhất một trung tâm thương mại tầm cỡ để Việt Lâm trở thành nhà bán lẻ hàng đầu đa ngành hàng tại khu vực các tỉnh Tây Bắc. Vị giám đốc đương nhiệm Phó chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ của tỉnh đã và đang làm cho con đường kinh doanh ngày càng rộng mở. N.S
|
| Bác vẫn đi kia…giữa cánh đồng |
Viết bởi nguyensan 14:33 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Chung |
|
Bác vẫn đi kia…giữa cánh đồng Lúc sinh thời, nông nghiệp, nông thôn, nông dân là một trong những vấn đề luôn được Bác quan tâm. Trong Di chúc, phần nói về nhân dân lao động, trong đó có nông dân, Người nhắc nhở: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Từ khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, trong công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế, thực hiện hợp tác hóa nông thôn, Hồ Chủ tịch luôn theo dõi mỗi bước đi của nông dân trên con đường làm ăn tập thể. Có biết bao cánh đồng, thửa ruộng, ngọn đồi từ đồng bằng, trung du đến miền núi đã từng in dấu chân của Bác, khắc ghi hình bóng giản dị mà vĩ đại của Người. Từ ngày toàn quốc kháng chiến cho đến khi Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, đánh phá miền Bắc, trong số 11 lần về ở và làm việc, về thăm Phú Thọ có 3 lần Bác thăm nông thôn, kiểm tra tình hình sản xuất nông nghiệp, gặp gỡ nông dân. Đó là chưa kể 2 lần người về thăm Đảng bộ và nhân dân, nói chuyện với đại biểu các tầng lớp nhân dân trong tỉnh; thăm một số cơ sở công nghiệp, nhắc nhở việc xây dựng khối liên minh giữa công nhân với nông dân, củng cố mối quan hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp. Ba lần Bác về thăm nông thôn, kiểm tra sản xuất nông nghiệp, gặp gỡ nông dân đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong mỗi người đã từng được trò chuyện với Người… Ngày 20-3-1961, Bác về thăm Đồng Tâm- HTX nông nghiệp điển hình tiên tiến của tỉnh. Đồng chí Đỗ Đức Khóa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh và đồng chí Nguyễn Văn Ngữ, nguyên Phó bí thư đảng ủy, Chủ nhiệm HTX Đồng Tâm kể lại: Bác từ trong máy bay bước ra hồng hào, khỏe mạnh. Cả rừng người đón Bác đồng thanh hô: Bác Hồ! Hồ Chủ tịch muôn năm! Bác cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương lên xe về huyện ủy Đoan Hùng. Cả dòng người cuốn theo như dòng nước tụ về nguồn. Một khoảng xanh, một màu xanh non tơ trải trên đường Bác đi. Đây là những triền đồi còn thơm mùi đất mới, óng ánh những mầm chè còn đọng giọt sương mai. Giữa thiên nhiên đổi mới, bóng Người cao lồng lộng. Bác nói với cán bộ và nông dân Đồng Tâm chuyện quản lý HTX, chuyện làm ăn, đẩy mạnh sản xuất phải đi đôi với thực hành tiết kiệm. “Người tốt với đất thì đất tốt với lúa. Đất tốt với lúa thì lúa tốt với người” là lời Bác dặn nông dân Đồng Tâm nhưng cũng là sự nhắc nhở với nông dân cả nước phải biết sử dụng, bảo vệ đất đai - loại tư liệu sản xuất đặc biệt. Thật bất ngờ, một vị lãnh tụ hàng ngày phải “đứng mũi chịu sào” lo toan bao việc “quốc gia đại sự” vẫn rành rẽ cả chuyện đồng áng, hiểu sâu sắc cuộc sống của người nông dân! Trong hai ngày 18 và 19-8-1962, về thăm Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ, Hồ Chủ tịch dành thời gian đến thăm HTX Nam Tiến, huyện Lâm Thao - đơn vị điển hình tiên tiến về năng suất lúa cao sản của tỉnh. Người đi vào sân trụ sở HTX, hỏi thăm tình hình sản xuất vụ mùa và trò chuyện với nông dân. Bác tranh thủ thăm một số gia đình xã viên như gia đình anh Tường, ông Ý, ông Thỉnh. Đi đến quãng đường gần trụ sở HTX, gặp chị Nguyễn Thị Tư bưng rổ khoai nước, Người dừng lại hỏi chuyện chị về cây khoai nước, nhắc về lợi ích của cây khoai và động viên bà con tận dụng đất đai, tích cực trồng thêm khoai nước để phát triển chăn nuôi, góp phần cải thiện đời sống. Trước khi Hồ Chủ tịch chia tay ra về, bà con xã viên Nam Tiến, người mang dừa, người mang bí ngô đến biếu. Bác vui vẻ nhận, cảm ơn rồi tặng lại bà con. Thật khó tin, trên thế giới có vị lãnh tụ được cả dân tộc kính yêu lại gần gũi với nông dân đến thế! Ông Trần Văn Thành, Chiến sĩ thi đua trồng cây xã Đào Xá nhớ lại trong một hồi ký: 8 giờ sáng ngày 26-1-1964, xe ô tô của Bác đi từ hướng huyện lỵ Thanh Thủy lên, đến gò Bạch Thạch thì đỗ lại. Bác cùng đoàn người lên thăm đồi trồng cây của xã. Hôm ấy tiết trời rét buốt, mưa phùn. Bác mặc chiếc áo đại cán đã bạc màu, cổ cuốn khăn len, đầu đội mũ dạ màu đen. Bác đứng trên đỉnh gò, mắt bao quát nhìn những dãy đồi vòng cung ôm lấy phía Tây xã Đào Xá. Trên đất đồi thoai thoải được trồng rất nhiều cây lấy gỗ xen dứa, tạo thành một vành đai xanh phủ kín mặt đất màu vàng thẫm. Sau ngày Bác về thăm, nhân dân Đào Xá trồng cây đa trên đỉnh gò. Theo dấu chân Bác đi trên mặt gò, bà con làm một con đường từ dưới khe dốc lên đến đỉnh, hai bên đường trồng nhiều cây ăn quả; dưới chân gò trồng tre bao bọc. Sau khi thăm gò cây, Bác xuống đường đi bộ vào làng. Dọc đường, Bác thăm khu trồng cây cánh kiến, thăm lớp học vỡ lòng, trò chuyện và chụp ảnh chung với cụ Ngô Thai là người cao tuổi của xã. Khi biết các đồng chí trong đảng ủy xã chuẩn bị 3 gia đình để Bác đến thăm, Người tỏ ý không hài lòng và bảo: Bác về xã nhất định sẽ xuống thăm dân, nhưng xuống như thế nào các chú không nên dàn dựng trước với Bác. Thật dễ hiểu, một người gần dân, thương dân như Bác, muốn hiểu hoàn cảnh thực tế của dân thì việc cấp dưới bố trí, sắp đặt, dàn dựng làm Bác không hài lòng là lẽ đương nhiên! Ba chuyến Người về thăm ba địa phương vùng nông thôn Phú Thọ, ngoài ý nghĩa trách nhiệm và sự quan tâm của người đứng đầu Chính phủ, còn để lại cho mọi người những bài học về giá trị đạo đức Hồ Chí Minh. Người đã đi xa, nhưng tư tưởng và tình cảm của Bác với nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn luôn là vấn đề thời sự. Cách đây mấy năm, Hội nghị lần thứ Bảy BCH Trung ương Đảng (khoá X) đã có nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân; gần đây BCH Đảng bộ tỉnh Phú Thọ cũng vừa có nghị quyết về vấn đề xây dựng nông thôn mới. Đó cũng là một khía cạnh của tấm gương đạo đức, tác phong sâu sát, cụ thể mà mỗi chúng ta cần học tập ở Người. 41 xuân qua Bác đã đi xa, nhưng trên mỗi con đường, mỗi cánh đồng, ngọn đồi, thửa ruộng, bóng hình của Người như vẫn đâu đây. Ta vẫn như nghe thấy giọng thơ Tố Hữu chan chưa tình đời: Bác vẫn đi kia… giữa cánh đồng/ Thăm từng ruộng lúa, hỏi từng bông/ Ghé từng hợp tác qua thôn xóm/ Xem mấy trường tươi, mấy giếng trong… N.S
|
| CHẤT XÁM vì MÀU XANH |
Viết bởi nguyensan 14:26 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Chung |
|
CHẤT XÁM vì MÀU XANH Nguyễn Sản Thắt chặt quan hệ tương hỗ giữa Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nông là một giải pháp quan trọng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân xoá đói, giảm nghèo để làm giàu, góp phần xây dựng nông thôn mới. Việc các nhà khoa học vào cuộc với nông dân để đưa những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đã và đang tạo ra những bước nhảy vọt trong trồng trọt. Chất xám của đội ngũ trí thức mang lại màu xanh mới cho đồng ruộng, đồi nương. 27 năm một giống chè Tiến sĩ Đỗ Văn Ngọc là một trong những người có mặt sớm nhất, lâu nhất ở Viện nghiên cứu Chè Phú Hộ- một trong những đơn vị tiền thân của Viện KHKT Nông - lâm nghiệp miền núi phía Bắc mà hiện nay ông là Phó viện trưởng kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu phát triển Chè. Bởi thế ông tiến sĩ tuổi Quý Tỵ này dù chỉ là bậc đàn em so với nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chè Phú Hộ - PGS Đỗ Ngọc Quỹ- nhưng hiện giờ đã là một trong những “tiên chỉ” của làng chè Việt Nam. Một thành tựu nổi bật nhất mà TS Đỗ Văn Ngọc và các cộng sự của ông đạt được trong chẵn ba mươi năm qua là tạo được một giống chè mới mang tên LDP2. Giống LDP2 là kết quả công trình nghiên cứu công phu, lâu dài và bền bỉ của tập thể cán bộ nghiên cứu chè. Giống chè này được chọn từ cá thể lai giữa giống Đại Bạch Trà (mẹ) có nguồn gốc Trung Quốc với giống chè PH1 (bố) có nguồn gốc Assam Ấn Độ. Sau khi các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu Chè Phú Hộ nghiên cứu, sản xuất thành công giống chè PH1, năm 1980, ông Ngọc lại khởi đầu cho một hành trình mới. Ông chọn PH1 là bố để lai với Đại Bạch Trà là mẹ với hy vọng thế hệ F1 và sau F1 sẽ có những đặc tính nổi trội về năng suất, chất lượng, tính thích nghi. Các năm từ 1981 đến 1987, nhóm nghiên cứu của ông Ngọc tiến hành đánh giá, chọn lọc cá thể triển vọng để chọn ra hai dòng LDP1 và LDP2. Phải mất 5 năm khảo nghiệm giống tại Phú Hộ, đến năm 1994, giống sản xuất thử nghiệm mới được công nhận. Dù đã có những thành công bước đầu về giống chè mới, nhưng đó cũng chỉ là kết quả trong phòng thí nghiệm. 11 năm liền sau đó, từ 1995 đến 2006, TS Ngọc và các cộng sự đã phải vất vả lên Yên Bái, sang Thái Nguyên, vào Nghệ An, trở về Phú Thọ để tổ chức sản xuất thử nghiệm, khảo nghiệm tại 4 vùng sinh thái đặc trưng ở phía Bắc để có những đánh giá khoa học về đặc điểm hình thái và sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất, hàm lượng tanin và các chất hoà tan, thành phần sinh hoá chủ yếu trong búp non “một tôm hai lá“, so sánh hoạt tính Polyphenoloxydaza của các giống, mức độ gây hại của một số loại sâu bệnh, khả năng sản xuất giống bằng phương pháp giâm chè cành... Kết quả mà các nhà khoa học thu được thật tuyệt vời. Năm 2006, LDP2 được công nhận là giống quốc gia, có năng suất từ 14-19 tấn/ha, chất lượng tốt, có thể chế biến thành chè xanh và chè đen, đã và đang được trồng ở tất cả các vùng, chiếm khoảng gần 20% diện tích chè cả nước. Sau hơn 20 năm lai tạo, chọn lọc, khảo nghiệm so sánh giống và sản xuất thử, LDP2 hiện là giống chè mới quốc gia của Việt Nam, do Việt Nam tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính, kết hợp phương pháp chọn lọc cá thể để tạo giống mới; đồng thời sử dụng công nghệ nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành- phương pháp tiến bộ đã được nghiên cứu và sử dụng tại Việt Nam nên đảm bảo tính thuần nhất của giống chè mới. Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2009, năng suất chè bình quân của cả nước tăng từ 3,6 tấn lên 6,8 tấn, gấp 1,88 lần. Kết quả này có đóng góp quan trọng của LDP2 của TS Đỗ Văn Ngọc và cộng sự. Từ giảng đường đến ruộng đồng Phó GS Hoàng Ngọc Thuận nguyên là cán bộ giảng dạy Bộ môn Rau hoa quả, Khoa Nông học, Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Có lẽ từ khi được nghỉ hưu, ông có thời gian tập trung nhiều hơn cho nghiên cứu khoa học phục vụ ản xuất và đời sống, có điều kiện để tiếp tục theo đuổi những ý tưởng, hoàn thiện những nghiên cứu của mình. Thành công của ông và các cộng sự được nhiều người biết đến trong những năm gần đây là kết quả nghiên cứu ứng dụng khoa học – công nghệ để sản xuất thành công phân bón lá phức hữu cơ, bởi vì đây là những vấn đề mà thực tiễn sản xuất đang đặt ra. Bằng chất giọng nhỏ nhẹ, khiêm nhường của nhà giáo, PGS Thuận chia sẻ: Khoảng giữa những năm chín mươi, một lần ông được lãnh đạo Trường đại học Nông nghiệp I mời lên làm việc với đoàn công tác bên Bộ Quốc phòng sang với yêu cầu là làm thế nào để có thể sản xuất rau sạch cung cấp cho bộ đội trong điều kiện khí hậu ở hải đảo, biên giới. Đây cũng là một yêu cầu của thực tiễn đối với các nhà khoa học. Thế rồi sau đó, thầy Thuận theo bộ đội ta Trường Sa, vào quân cảng Cam Ranh, lên các đơn vị biên phòng để nghiên cứu thực tế. Chẳng bao lâu, thầy Thuận đã xây dựng được quy trình kỹ thuật trồng rau trong điều kiện khan hiếm đất, nước ngọt. Thế là vấn đề rau xanh cho bộ đội ở Trường Sa và các vùng biên giới, hải đảo đã có hướng giải quyết. Hơn thế, thầy Thuận và các cộng sự của mình còn giúp Trường Sa giải pháp kỹ thuật và công nghệ để mỗi năm phủ xanh được thêm khoảng 10% diện tích ở đảo trong điều kiện khí hậu và thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Xin trở lại với đề tài sản xuất phân bón lá phức hữu cơ Pomior. Đây là dự án KHCN cấp nhà nước KC07.DA 14/06-10 thuộc Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn do PGS, TS Hoàng Ngọc Thuận chủ trì với sự tham gia của 7 cơ quan nghiên cứu và quản lý sản xuất, gồm 9 cán bộ khoa học, 1 nghiên cứu sinh, 20 sinh viên. Cùng tham gia nhóm nghiên cứu còn có Cục Sản xuất Tổng cục Quân nhu Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ đảo Trường Sa. Pomior là phân bón lá dạng phức hữu cơ cao cấp, có đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, vi lượng; trong thành phần có 17 loại axit amin quan trọng nhất cần thiết cho cây trồng. Tác dụng vượt trội của Pomior là cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây, tăng hiệu suất quang hợp, tăng hiệu quả các loại phân bón có trong đất, tiết kiệm từ 10-15% phân hữu cơ và các loại phân khoáng đa lượng; thúc đẩy sinh trưởng rễ, thân, cành, lá của cây trồng trong các thời kỳ sinh trưởng và phát triển để tăng năng suất cây trồng. Không đi sâu vào dự án này, chúng tôi chỉ nhấn mạnh giá trị thực tiễn mà nó mang lại khi PGS, TS Hoàng Ngọc Thuận “bắt tay„ với Trung tâm Giống cây trồng Phú Thọ xây dựng quy trình và đầu tư lắp đặt dây chuyền sản xuất phân bón lá phức hữu cơ Pomior tại cơ sở của Trung tâm ở phường Vân Cơ, thành phố Việt Trì. Với kinh phí đầu tư không lớn, diện tích mặt bằng vài trăm m2, một dây chuyền sản xuất phân bón lá phức hữu cơ Pomior công suất 800 lít/ ca đã đi vào sản xuất, cung cấp sản phẩm hàng hoá cho nhiều cơ sở nghiên cứu như Trường Đại học Nông nghiệp I, Đại học Nông nghiệp Thái Nguyên, Viện Di truyền – Bộ Nông nghiệp- PTNT, Đại học Tây Nguyên và nông dân ở nhiều tỉnh phía Bắc như Phú Thọ, Sơn La, Yên Bái... Bà Nguyễn Thị Tâm, Giám đốc Trung tâm Giống cây lương thực tỉnh khẳng định: Trong điều kiện chịu ảnh hưởng ngày càng nhiều của biến đổi khí hậu,ảtong vài năm gần đây, tình trạng hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh xẩy ra khá thường xuyên. Để giúp cây trồng phục hồi nhanh sau sâu bệnh, úng lụt; đặc biệt là để giúp cây trồng có thể hấp thu chất dinh dưỡng trong điều kiện bị hạn dài ngày thì phân bón lá phức hữu cơ Pomior có ưu thế vượt trội bởi các loại phân bón qua rễ nếu không có nước thì không thể phát huy tác dụng kịp thời. Chúng tôi đã đi khảo sát hiệu quả của việc thử nghiệm sử dụng phân bón lá ở HTX nông nghiệp thị trấn Lâm Thao huyện Lâm Thao, ở xã Ngọc Đồng huyện Yên Lập cho thấy chi phí sản xuất giảm, năng suất cây trồng tăng, tạo ra được sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm. Qua hai câu chuyện về người tạo ra giống chè LDP2 và phân bón lá phức hữu cơ Pomior để thấy rằng, một khi nhà khoa học “bắt tay„ được với nhà quản lý nông nghiệp và nhà nông, nhà doanh nghiệp trong mối liên kết “4 nhà„ thì chắc chắn sản xuất nông nghiệp sẽ có bước phát triển nhanh và bền vững, nông dân sẽ được tiếp cận và thụ hưởng lợi ích từ khoa học- công nghệ. Chất xám của nhà khoa học sẽ mang lại màu xanh cho đồng ruộng, đồi nương. Nông dân có thêm điều kiện để làm giàu, và như vậy việc xây dựng nông thôn mới sẽ có thêm nhiều cơ hội. N.S
|
| XUÂN NAY, VỀ MIỀN QUÊ XOAN GHẸO |
Viết bởi nguyensan 22:02 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (1) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Phóng sự |
|
XUÂN NAY, VỀ MIỀN QUÊ XOAN GHẸO Nguyễn Sản Phú Thọ, đất Tổ Hùng Vương - miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc trong kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam. Với gần 100 lễ hội tiêu biểu, gắn liền với yếu tố tâm linh, tín ngưỡng thờ các Vua Hùng, không gian các lễ hội ở Phú Thọ trải dài hầu khắp các vùng miền trong tỉnh trong suốt cả năm, nhưng nhiều nhất là vào mùa xuân. Trong cuộc hành hương về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, về với Phú Thọ vào mùa xuân này, du khách sẽ được hoà mình trong không khí lễ hội đầy ắp yếu tố tâm linh tín ngưỡng của vùng Trung du, Bắc bộ, như lễ hội Cướp bông , ném chài của Vân Phú - TP Việt Trì, trò trình nghề Tứ dân chi nghiệp của Tứ Xã - Lâm Thao, lễ hội Tết Nhảy của người Dao - Yên Lập; được tham gia các trò diễn hoặc các môn thể thao truyền thống thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc như hội thi Giã bánh giày, Bơi chải Bạch Hạc -TP Việt Trì, Cướp Phết ở Hiền Quan - Tam Nông, Cướp cầu đinh Phương Xá - Cẩm Khê...Trong tiết xuân ấm áp, theo hương chè, hương quế, du khách về với các làng quê để thưởng thức làn điệu dân ca của người Tày, người Dao, Cao Lan; để hoà mình vào âm thanh cồng chiêng rộn rã của đồng bào Mường ở Tất Thắng - Thanh Sơn, nghe điệu Kèn lá dìu dặt, da diết của cô gái Mông mong ngóng bạn tình... Đó là bức tranh lễ hội đầy màu sắc, đậm đà chất dân gian truyền thống của vùng đất cội nguồn dân tộc. Chương trình “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam” với chủ đề “Về miền quê Xoan Ghẹo" năm nay sẽ giới thiệu với bạn bè trong nước và quốc tế về một Phú Thọ giàu bản sắc văn hoá truyền thống, giàu tài nguyên nhân văn đang trong quá trình hội nhập và phát triển. Với những tiềm năng và lợi thế của mình, Phú Thọ đang giang rộng vòng tay đón chào bè bạn, đón du khách về thăm một vùng đất thiêng của người Việt. Đây cũng là cơ hội để tỉnh Phú Thọ mở rộng và tăng cường hợp tác đầu tư trên các lĩnh vực kinh tế- văn hoá- xã hội ; tạo tiền đề để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá , xây dựng Phú Thọ trở thành tỉnh giàu mạnh, văn minh. Hành trình về Phú Thọ, xin bắt đầu từ Việt Trì - thành phố ngã ba sông, một trong 11 trung tâm vùng của cả nước - đang có vóc dáng của một đô thị vừa mang nét hiện đại, năng động, vừa cổ kính, nên thơ. Nói đến Việt Trì là nói đến thành phố lễ hội, kinh đô Văn Lang xưa, nơi in đậm các di tích, di chỉ khảo cổ học; nơi khởi thủy nền văn minh lúa nước sông Hồng .. Những năm gần đây, cùng với phát triển kinh tế, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã quan tâm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, coi đây là nền tảng tinh thần, động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Trên mảnh đất này hiện bảo lưu được nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể gắn với thời đaị các Vua Hùng như Đình Lâu Thượng, đình Hương Trầm, Hát Xoan An Thái, lễ hội Bơi chải Bạch Hạc...Thành phố Việt Trì còn có Kim Đức, Phượng Lâu là đất gốc phường xoan. Câu chuyện về nguồn gốc hát Xoan như hư, như thực mà vẫn được tin, được truyền từ đời nọ đến đời kia, để rồi những thang âm dân gian ấy ngày nay được nhân loại quan tâm với kỳ vọng được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Hát Xoan thường được hát ở đình làng. Đó là tiếng hát của người dân lao động, là tiếng nói tình cảm, là ước vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thuận hoà tình làng nghĩa xóm, xoá nhoà ranh giới sang hèn trong xã hội. Từ Việt Trì, theo đê sông Hồng nối quốc lộ 32, chỉ hơn bốn chục km là đến Thanh Sơn- huyện miền núi phía Tây của tỉnh. Nơi đây, đồng bào vẫn còn lưu giữ được rất nhiều những giá trị văn hóa vô cùng quý giá về phong tục, tập quán sinh hoạt, nghi lễ tín ngưỡng và đặc biệt là về ẩm thực với nhiều món ăn, lối ăn đặc sắc như: Cơm lam, thịt chua, rau sắng, măng đắng, mật ong...khiến ai đã một lần trải nghiệm thì khó có thể lãng quên! Ở Thanh Sơn có nhiều sinh tộc cùng sinh tụ, nhưng chủ yếu vẫn là người Kinh và người Mường. chính đặc điểm này đã tạo nên nền văn hóa Việt Mường vô cùng đặc sắc. Ai đã một lần đằm mình trong âm vang tiếng cồng chiêng rộn rã của người Mường Tất Thắng, Tân Lập; trong tiếng khèn lá, khèn bỉ gọi bạn của những chàng trai, cô gái người Dao, người Mông Võ Miếu, Vinh Tiền...mới thấy được phần nào sự đa dạng trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Thanh Sơn. Ngước phía Tây theo quốc lộ 32 là đến với Tân Sơn để được hòa mình trong các diễn xướng dân gian của các dân tộc như: Hát Ví, đâm đuống, đánh trống đồng, thổi kèn lá…Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ và nhân dân Tân Sơn đã hết sức quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc. Hàng năm tổ chức ngày hội văn hóa các dân tộc của huyện, đã khơi dậy nhiều giá trị văn hóa phi vật thể độc đáo, tạo điệu kiện để nhân dân tham gia sáng tạo, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của địa phương, từ đó động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất góp phần xây dựng huyện nhà đi lên trên con đường hội nhập và phát triển. Nằm bên hữu ngạn sông Thao, trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, người dân Cẩm Khê vẫn bảo tồn được nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, trong đó có 6 di tích lịch sử xếp hạng quốc gia, 26 di tích xếp hạng cấp tỉnh và nhiều lễ hội truyền thống tiêu biểu như: Lễ rước kiệu, voi , ngựa Phùng Xá; lễ hội tắm Ngựa Hiền Đa, lễ hội rước nước đình Hội Tuy Lộc. Cẩm Khê còn là vùng quê có những làng nghề nổi tiếng như làng mộc Dư Ba, làng nón Sai Nga. Chiếc nón lá được làm ra bởi bàn tay tài hoa, khéo léo của những người phụ nữ đảm đang. Không chỉ đội nắng, tắm mưa, che sương, chắn gió, chiếc nón Sai Nga còn gửi gấm năm nhớ mười thương của người lợp lá khâu chỉ. Phát triển làng nghề truyền thống trong đó có làng nghề làm nón hiện đang là một trong những mối quan tâm của Đảng bộ , chính quyền và nhân dân Cẩm Khê để góp phần phát triển kinh tế và khai thác tiềm năng du lịch ở chính quê hương mình. Thị xã Phú Thọ có lịch sử trên trăm năm, nằm bên bờ sông Thao đỏ nặng phù sa. Năm 1940, ngọn cờ đỏ sao vàng, linh hồn của dân tộc, kiêu hãnh tung bay phấp phới trên cây đa lịch sử. Ngày xuân về với thị xã bình yên, với những lễ hội truyền thống, tĩnh tâm vãn cảnh chùa Kính Long, đền Trù Mật, chùa Bồng Lai, Đình Hà Mạo...cho vơi những lo toan, tất bật thường ngày. Trong mỗi chúng ta, từ thuở ấu thơ cũng ít nhất một lần được cầm sợi dây diều, thả hồn mình vào giữa bao la trời đất . Ở thị xã Phú Thọ, thả diều không chỉ là thú chơi tao nhã mà nó đã được nâng lễn, trở thành trò chơi phong tục, ẩn chứa những khát vọng của con người muốn hướng tới một cuộc sống no ấm, bình an và hạnh phúc. Diều của Phú Thọ có nhiều loại, trong đó có diều chiêng, diều sáo khi bay cất tiếng ngân nga, âm vang vời vợi. Diều càng lên cao, tiếng sáo nghe càng rền, càng réo rắt khiến ai bàng quan nhất cũng khó khỏi phút xao lòng. Huyện Phù Ninh, dưới góc độ địa văn hoá, là nơi còn in đậm những nét những dấu tích văn hoá thời Hùng Vương trong các trò diễn xướng dân gian, hội làng, trong sinh hoạt cộng đồng và các di chỉ khảo cổ học dưới lòng đất (như xóm Dền xã Gia Thanh). Vùng đất này ngay từ buổi bình minh của lịch sử đã hình thành một nền văn hoá đặc sắc với các phong tục, lễ hội dân gian đa dạng phong phú, giàu ý nghĩa nhân văn, mang đậm bản sắc văn hoá vùng đất Tổ như: Hát Xoan, hát Ca trù ở Bình Bộ, cùng nhiều di tích lịch sử văn hoá có giá trị như đình Hùng Lô, đình Nhượng Bộ, đình Chanh, chùa Viên Sơn, chùa Hoàng Long. Về đất này, du khách sẽ bị cuốn hút vào không khí náo nhiệt của lễ hội chọi trâu ở Phù Ninh, vào tiếng hò reo rộn rã của những chàng trai, cô gái Tiên Du trong trò diễn bắt chạch trong chum vô cùng độc đáo. Lâm Thao là vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hoá cội nguồn dân tộc. Lịch sử và truyền thuyết Hùng Vương cùng lễ tục, hội làng, phong tục tập quán tốt đẹp đang được bảo lưu trên mảnh đất này. Những tên đất ,tên làng như Kẻ Gáp Tứ Xã, Kẻ Dòng Xuân Lũng, Kẻ Máy Cao Mại... cùng những di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu như Chùa Xuân Lũng, đình Hữu Bổ, đình Do Nghĩa, cầu Xa Lộc là những di sản văn hoá tiêu biểu của Lâm Thao cũng như của Phú Thọ..Đặc biệt trên địa bàn huyện Lâm Thao còn lưu giữ 4 khu di chỉ khảo cổ học quí giá - đó là Khu rừng Sậu di chỉ văn hoá Sơn Vy- dấu ấn sự tồn tại và phát triển của tổ tiên người Lạc Việt; di chỉ Phùng Nguyên - đồng nghĩa với nền văn hoá Phùng Nguyên; di chỉ Gò Mun tiêu biểu của nền văn hoá thời đại các Vua Hùng dựng nước. Gắn với nền văn hoá vật thể đó là nền văn hoá phi vật thể như lễ hội làng, lễ hội xuống đồng cầu cho mưa thuận gió hoà, cầu cho quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt- mà tiêu biểu lễ hội Bách nghệ khôi hài, tứ dân chi nghiệp của Tứ Xã, lễ hội kéo lửa nấu cơm thi của Kinh Kệ vv... Đoan Hùng là địa bàn cư trú của 14 dân tộc anh em, nhưng đông nhất vẫn là người Kinh và Cao Lan. Trên mảnh đất này đã ghi dấu nhiều chiến công to lớn của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược như chiến thắng sông Lô năm 1947, chiến thắng Chân Mộng Trạm Thản năm 1952. Đoan Hùng hiện có 7 di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, 2 di tích cấp quốc gia cùng nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc phản ánh đời sống văn hoá tâm linh, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc đang sinh sống trên địa bàn huyện. Đi cà Kheo cũng là một trò chơi dân gian độc đáo của đồng bào Cao Lan. Chiếc cà kheo gắn bó với đời sống sinh hoạt của đồng bào Cao Lan. Những ngày đầu mở làng, mỗi khi lên rừng hái củi hoặc làm nương, phát rẫy, người dân Cao Lan đã nghĩ ra việc làm hai chiếc nạng bằng tre đi trên cao để phòng tránh thú dữ, rắn rết. Sau này, chiếc nạng tre đã được đưa vào sử dụng trong các hoạt động lễ hội dân gian của người Cao Lan và có tên gọi là Cà Kheo. Trong lễ hội cao Lan, sau các trò chơi dân gian là hình thức hát dân ca và múa của đồng bào dân tộc Cao Lan.Ở làng Ngọc Tân xã Hùng Quan, đồng bào dân tộc Cao Lan có hình thức hát đối giao duyên - đó là hát Sình ca và một số điệu múa dân gian rất đặc sắc như múa Xúc tép, múa Chim gâu. Thanh Thuỷ là vùng đất văn hiến, có tới 24 di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, 5 di tích cấp quốc gia. Thanh Thuỷ nổi tiếng bởi là quê hương của những trò diễn dân gian thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc như Múa voi (Đào Xá); Rước kiệu truyền thống đền Lăng Sương (Trung Nghĩa); diễn xướng cồng chiêng (Yến Mao) ;hội nấu cơm thi (Đào Xá)...đều gắn với huyền thoại thời dựng nước, với những sự kiện trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Yên Lập là huyện miền núi cách tỉnh lỵ 70km, gồm 13 dân tộc anh em cùng chung sống; trong đó dân tộc Mường chiếm 80%. Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, huyện Yên Lập đã tập trung đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư văn hoá, xã, phường, thị trấn văn hoá; phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao phát triển mạnh; đặc biệt là các hoạt động văn hoá dân gian và thể thao truyền thống như Múa Mỡi, Múa Sênh tiền, Trống đu của dân tộc Mường; Múa Rùa, múa Chuông, múa Kiếm của dân tộc Dao đã tạo nên một bản sắc độc đáo của các dân tộc anh em. Ở Tam Nông, năm 543 Lý Nam Đế đã chọn gò Cổ Bồng - xã Cổ Tiết làm nơi đóng đô và đặt tên nước là Vạn Xuân. Cách đây 119 năm, Thị trấn Hưng Hoá huyện Tam Nông là thủ phủ của tỉnh Phú Thọ. Đây là huyện có truyền thống cách mạng và truyền thống văn hoá lâu đời với những tên đất, tên làng còn ghi dấu ấn lịch sử như Động Khuất Liêu, cột cờ thành Hưng Hoá, di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết vv...Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người dân Tam Nông còn bảo tồn được nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể có giá trị; trong đó có 13 di tích được xếp hạng quốc gia, 22 di tích xếp hạng cấp tỉnh, cùng nhiều lễ hội truyền thống tiểu biểu như Lễ hội Phết Hiền quan, Lễ hội hát Ghẹo Thanh Uyên, Lễ hội kéo lửa nấu cơm thi làng Gia Dụ - Vực trường, lễ hội bơi chải đình Quang Húc, lễ hội Hương Nha...Có thể nói, không một vùng đất nào ở Phú Thọ lại hội tụ nhiều tinh hoa văn hoá đặc sắc như ở Tam Nông. Bên cạnh các lễ hội truyền thống, trò diễn hội làng, Tam Nông còn nổi tiếng bởi đây là quê hương của làn điệu Hát Ghẹo đằm thắm, trữ tình, của những làn điệu chèo da diết mời gọi và những câu chuyện cười Văn Lang còn truyền tụng mãi đến ngày nay. Trước ngày khai hội phết Hiền Quan (13 tháng Giêng), tại Tam Nông- miền quê Xoan ghẹo, chương trình "Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam" năm 2011 của tỉnh Phú Thọ khởi động. Đây là hoạt động nhằm tôn vinh những giá trị văn hoá truyền thống, góp phần phát triển du lịch dịch vụ trở thành khâu đột phá về kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ tỉnh.
|
| Theo bánh xe quay |
Viết bởi nguyensan 21:56 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Phóng sự |
|
Theo bánh xe quay Nguyễn Sản Sáu tháng nay, kể từ khi nhận được “lệnh” của “sếp” Hồ Chương - Tổng Giám đốc Tập đoàn Mai Linh Đông Bắc Bộ giao nhiệm vụ cho Công ty Mai Linh Phú Thọ phối hợp với địa phương đón tiếp chu đáo 1.000 Anh hùng và Bà mẹ Việt Nam Anh hùng về thăm đất Tổ nhân Đại lễ kỷ niệm thiên niên kỷ Thăng Long - Hà Nội, giám đốc Lê Văn Thạo ít có thời gian về với vợ con ở Hà Nội. Tối 30 Tết, anh vừa đặt chân về nhà, đôi tay vẫn lạnh buốt vì quãng đường ngót trăm cây số thì lại có điện từ Việt Trì báo cáo "nóng" về nhu cầu taxi của khách. Thế mới biết, doanh nghiệp làm dịch vụ vất vả đến mức nào, khi mà hành khách có yêu cầu thì bằng mọi cách phải đáp ứng. Lê Văn Thạo đã từng nói với tôi: Mọi khả năng đáp ứng đều có giới hạn, nhưng điều buồn nhất là khi nhân viên tổng đài phải xin lỗi hành khách vì hết phương tiện. Cũng chả phải lúc nào nhu cầu của khách cũng "nóng" lên như vậy, bởi trên địa bàn thành phố Việt Trì hiện nay đã có nhiều hãng taxi, đáng kể như Thanh Tuyền, Nam Cường, Hồng Ngọc..., sau đó phải kể tới Biển Bạc. Ở các địa bàn khác cũng đã có một số hãng taxi mới đi vào hoạt động như Mai Lan, Thanh Sơn, Biển Vàng. Do vậy ít nhiều đã tạo áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Dịch vụ taxi có tính đặc thù, nhu cầu của khách không thường xuyên, chỉ cao vào các dịp lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần hoặc khi thời tiết có những bất thường như quá nắng nóng, quá gió mưa, giá rét; hoặc khi có quá nhiều phương tiện tham gia giao thông, khách muốn được đảm bảo an toàn... Tổng thời gian này chỉ chiếm khoảng trên dưới 20-30% số ngày hoạt động trong năm. Trong 70-80% thời gian còn lại, lượng khách bình thường, thậm chí có thời điểm rất ít khách. Ngoài các yếu tố trên, như các ngành nghề khác, dịch vụ taxi cũng chịu ảnh hưởng chi phối của các điều kiện về kinh tế - xã hội, nhất là khi giá nhiên liệu luôn tăng cao, chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương còn có những mặt bất cập. Còn nhớ cách đây hơn 2 năm, Tập đoàn Mai Linh Đông Bắc Bộ phát triển thị trưởng, đưa mấy chục xe lên đất Tổ thành lập công ty TNHH một thành viên Mai Linh Phú Thọ. Tài sản lớn nhất của công ty bấy giờ không phải là 25 xe con các loại, mà là uy tín và thương hiệu của công ty mẹ. Hẳn nhiều người qua phương tiện thông tin đại chúng đã từng nghe về một Tập đoàn Mai Linh (MaiLinh Group) hoạt động trên nhiều lĩnh vực, mà chủ yếu là vận tải. Trong lễ ra mắt Công ty Mai Linh Phú Thọ, ngoài quan khách còn có mặt khá nhiều thương binh, cựu chiến binh, chính người đứng đầu Tập đoàn đã nói với các đồng đội rằng: Mai Linh mang lên mảnh đất cội nguồn một tầm nhìn: "Trở thành nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất nơi chúng tôi có mặt"; một sứ mạng "mang sự hài lòng cho mỗi người vì cuộc sống tốt đẹp hơn" và những giá trị cốt lõi "Hiệu quả- làm chủ- dẫn đầu- chuyên nghiệp, chung sức chung lòng". Đó là tài sản lớn hơn mọi tài sản. Thừa hưởng những giá trị ấy, trong hơn 2 năm qua, Mai Linh Phú Thọ đã kiên trì khắc phục khó khăn để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường, tạo bước tăng trưởng và phát triển; đồng thời tích cực tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương. Vốn điều lệ đã tăng gấp đôi, số lượng phương tiện đã tăng gấp 5 lần kéo theo số lao động cũng tăng từ 60 lên 233, chủ yếu là lái xe. Để chứng minh cho sự phát triển trong kinh doanh của công ty, Giám đốc Lê Văn Thạo đãn ra một vài con số thống kê của năm 2010: Tổng doanh thu 23.174 triệu đồng; lợi nhuận sau thuế 1 tỷ; quãng đường vận doanh gần 6,3 triệu km; quãng đường có khách gần 3,6 triệu km... đều vượt kế hoạch Tập đoàn giao từ 11 - 58%. Thị trường được mở rộng, Công ty thành lập 2 đội xe, một hoạt động ở thành phố Việt Trì, một hoạt động ở khu vực Lâm Thao, thị trấn Phong Châu và huyện Tam Nông, huyện Thanh Sơn. Ở các đầu mối giao thông như ga Việt Trì, các bến xe, một số bệnh viện...luôn có phương tiện thường trực để phục vụ hành khách. Số phương tiện hoạt động thường xuyên là 100 xe. Những tháng đầu năm 2011, công ty đã trang bị thêm 35 xe nữa để đảm bảo phục vụ các nhu cầu của khách. Trong câu chuyện với tôi một sáng đầu xuân trước khi vào Thanh Hóa học một khóa đào tạo nâng cao trình độ quản lý, vị "doanh nhân tiêu biểu đất Tổ" năm 2010 này khẳng định: Mai Linh Phú Thọ đã thực hiện tốt khẩu hiệu hành động phục vụ của Tập đoàn là "An toàn- thuận tiện- mọi lúc- mọi nơi". Đội ngũ lái xe được đào tạo lại và được trang bị "văn hóa Mai Linh" nên luôn cam kết đảm bảo an toàn giao thông, nhiệt tình phục vụ khách. Đã có không ít trường hợp lái xe trả lại tài sản của khách bỏ quên trên xe. Số anh em điều khiển phương tiện an toàn ngày một nhiều. Với mức doanh thu bình quân / ngày / xe xấp xỉ 800 nghìn đồng nên thu nhập háng tháng của lái xe phổ biến từ 3 triệu đồng trở lên. Được tạo điều kiện về ciệc làm, có thu nhập đảm bảo nhưng những người vi phạm đạo đức kinh doanh của Tập đoàn đều bị kiên quyết sa thải để khẩu hiệu hành động của lao động Mai Linh được tôn trọng triệt để. Đã từng chứng kiến hảo tâm của những người lao động Tập đoàn Mai Linh trong các nghĩa cử như tham gia cung tiến xây dựng Đền Hùng, đóng góp tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương, tăng trâu làm sức kéo cho đồng bào miền núi huyện Tân Sơn trong chương trình "Lửa ấm về các vùng quê"...; tôi thực sự xúc cảm trước bức ảnh một nữ nhân viên Mai Linh, xòe chiếc ô màu lá che nắng cho Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng trong chuyến cụ cùng đoàn 1.000 anh hùng về thăm đất cội nguồn tháng 10 năm trước. Có lẽ chính bởi những người lãnh đạo Tập đoàn đã từng là người lính, từng là thương bệnh binh nên hơn ai hết họ hiểu giá trị của cuộc sống và sự cống hiến, sự tri ân. Có thể xem việc tổ chức được một đoàn 1000 người có công với nước từ trên sáu chục tỉnh thành khắp cả nước trong chương trình "Thăng Long - Hồn thiêng sông núi" với 8 cuộc giao lưu đầy ý nghĩa do Mai Linh chủ trì là một kỳ tích, bởi sự công phu và cả sự tốn kém về vật chất. Trong thành công ấy, Mai Linh Phú Thọ có phần đóng góp không nhỏ. Trong những ngày vui xuân đón Tết Tân Mão vừa qua, nhịp thời gian hối hả giục giã vòng quay của bánh xe lăn. Theo từng con đường, ngõ phố, taxi Mai Linh muốn trao gửi khách hàng niềm tin về một phong cách phục vụ chuyên nghiệp, luôn lấy những giá trị cốt lõi làm nền tảng. N.S
|
| Cõi thiêng Bái Đính |
Viết bởi nguyensan 21:51 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Phóng sự |
|
Cõi thiêng Bái Đính Nguyễn Sản “...Trong đời sống con người, ngoài mặt “hiện hữu” còn có mặt “phi hiện hữu” mà người ta gọi là tâm linh. Mặt hiện hữu có thể nhận thức được bằng trực quan, cảm giác, có thể định tính, định lượng được một cách cụ thể. Mặt “phi hiện hữu” là những cái trừu tượng, mông lung, huyền bí, thiêng liêng nhưng không thể thiếu được trong đời sống con người. Tuy phi hiện hữu nhưng đời sống tâm linh là nền tảng vững chắc của mối quan hệ cộng đồng làng xã, và rộng lớn hơn là của cả đất nước...” Về Bái Đính lần nay, cơ duyên đã cho tôi gặp một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian có tiếng của tỉnh Ninh Bình. Ông nguyên là Phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật - Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình; nay đương nhiệm Trưởng chi hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tỉnh Ninh Bình – tác giả 12 đầu sách cùng hàng trăm bài nghiên cứu lịch sử, văn hoá, lý luận phê bình văn học... liên quan đến vùng đất cố đô nhà Lý. Nhiều người coi ông là pho sử sống về các vấn đề lịch sử - văn hóa dân gian. Được gặp ông giữa đất trời Bái Đính giúp tôi sáng tỏ những "tồn nghi" trong nhận thức của mình bấy lâu. Qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua các đồng nghiệp ở Báo Ninh Bình, tôi đã biết Bái Đính là công trình văn hoá tâm linh hiện đang giữ hơn một chục kỷ lục về quy mô đình chùa Việt Nam. Đó là ngôi chùa có chuông đồng lớn nhất (30 tấn); pho tượng Thích ca Mâu ni bằng đồng cao và nặng nhất (150 tấn); bộ tượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất (mỗi pho nặng 50 tấn); ngôi chùa có nhiều cây bồ đề nhất; có hành lang tượng La Hán dài nhất, gồm 234 gian dài 1.052m, có 500 pho; bộ tượng Bát bộ Kim Cương bằng đồng nặng nhất (mỗi tượng nặng 4 tấn, cao 3,95m); tượng ông Thiện và ông Ác bằng đồng cao và nặng nhất (mỗi pho nặng 20 tấn, cao 5,2m); bộ tượng A Nan- Ca Diếp bằng đồng lớn nhất (mỗi tượng tặng 30 tấn, cao 9 m); tượng Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng đồng dát vàng lớn nhất (nặng 80 tấn, cao 5,4 m), tương Phật Di Lặc bằng đồng lớn nhất (nặng 80 tấn, cao 10m); chùa có Giếng Ngọc đường kính lớn nhất (30 m)... Cũng chính tại đây, năm trước đã diễn ra Đại lễ cung nghinh Xá lợi lớn nhất do Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức. Những thành quả và sự kiện này là kết tinh tâm nguyện, công sức, trí tuệ, tài lực của hàng triệu phật tử, nhà hảo tâm, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; là tấm lòng từ bi của vợ chồng ông chủ doanh nghiệp Xuân Trường với những công trình xây dựng giao thông, đền chùa nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc. Cách đây chừng ngót chục năm, tôi đã về xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn khi công trường xây dựng chùa Bái Đính đang mở ra. Từ quốc lộ 1 vào xã chỉ là con đường liên xã, cấp phối, bụi tung mù trời mỗi khi có xe chở vật liệu chạy qua. Giờ nối con đường dọc miền đất nước vảo ngôi chùa nhiều kỷ lục là con đường một chiều, rộng mấy làn xe, băng qua những cánh đồng, xen giữa những dãy núi đá trùng điệp. Hai bên đường và dải phân cách được trồng toàn cây bồ đề đất Phật. Từ xa, cách 2-3 km tôi đã thấy hai ngôi chùa như hai búp sen khổng lồ bên sườn núi Bái Đính. Đã qua ngày chính hội chùa Bái Đính hơn hai tuần mà du khách về đây vẫn nườm nượp, xe máy, ô - tô lớn nhỏ đỗ chật kín hai bãi rộng hàng chục ha phía trước cửa chùa. Được một người bạn ở báo Ninh Bình giới thiệu, tôi gặp nhà văn hóa dân gian Trương Đình Tưởng ngay tại quầy sách trước cửa Tam Quan. Trong vô số sách bày bán ở đây, ông chỉ cho tôi những cuốn mà ông là tác giả: Truyền thuyết Hoa Lư, Những nhân vật lịch sử thời Đinh- Lê, Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình, Đền Dâu- Quán Cháo, sự tích và huyền thoại, Truyền cổ dân gian Ninh Bình, Tiên Chúa nương dâu... Ông với tay lấy cuốn Bái Đính, ngàn năm tâm linh và huyền thoại do Nhà xuất bản Thế giới ấn hành, định tặng tôi. Thấy nhà nghiên cứu đã quá tuổi thất thập rút ví lây 40 nghìn đồng trả cô bán sách tôi không nỡ. Nhanh tay hơn, tôi giúi vào tay cô hàng sách rất xinh, nói giọng Hà Nội hai tờ hai mươi nghìn rồi kéo ông Tưởng đi cùng hàng loạt câu hỏi về Bái Đính. Vốn là cử nhân Văn- Sử và Luật, ông Tưởng có lối kể chuyện như giáo viên trên bục giảng. Ông khẳng định: Trong đời sống con người, ngoài mặt “hiện hữu” còn có mặt “phi hiện hữu” mà người ta gọi là tâm linh. Mặt hiện hữu có thể nhận thức được bằng trực quan, cảm giác, có thể định tính, định lượng được một cách cụ thể. Mặt “phi hiện hữu” là những cái trừu tượng, mông lung, huyền bí, thiêng liêng nhưng không thể thiếu được trong đời sống con người. Tuy phi hiện hữu nhưng đời sống tâm linh là nền tảng vững chắc của mối quan hệ cộng đồng làng xã, và rộng lớn hơn là của cả đất nước...Thế giới tâm linh là thế giới của cõi thiêng,mà ở đó, chỉ những gì cao cả, thiêng liêng, lương thiện, đẹp đẽ mới tồn tại. Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở cái thiêng liêng ấy. Mỗi ngôi đình, ngôi chùa hội tụ tâm linh của làng xã, thậm chí cả một vùng miền. Môi công trình, mỗi địa danh như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Yên Tử, chùa Hương, Côn Sơn, Kiếp Bạc, đền Trần... là những biểu tượng thiêng liêng của tâm linh dân tộc. Giờ, Đình Bái Đính là một trung tâm lớn của Phật giáo Việt Nam, năm trong vùng trung tâm phất giáo của cả nước thời Đinh - Tiền Lê và đầu nhà Lý, trở thành cõi thiêng trên trục Đông -Tây và Nam - Bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Cõi thiêng Bái Đính đã được hun đúc từ hàng ngàn năm, nay gặp buổi "thiên duyên kỳ ngộ" mà thăng hoa, phát tích, tạo nên sự đăng đối giữa ba trung tâm tâm linh lớn của ba dòng đạo từ thời nhà Trần thế kỷ thứ XIII đến nay: trung tâm Đạo giáo thời nhà Trần ở Thái Vi (Hoa Lư) thế kỷ XIII, Trung tâm Thiên chúa giáo Phát Diệm (Kim Sơn) thế kỷ XIX và Trung tâm Phật giáo Bái Đính (Gia Viễn) thế kỷ XXI trên vùng đất cố đô lịch sử. Đây vừa là dòng chảy liên tục của mạch nguồn lịch sử, văn hóa, tâm linh, vừa vừa là bước phát triển đỉnh cao những biểu tượng của tâm linh dân tộc thời kỳ đổi mới và hội nhập, để lai những công trình "có một chưa có hai" cho hậu thế. Đưa ánh nhìn ôm trọn một vùng non nước Gia Viễn, ông Tưởng nói rành rẽ: - Bái Đính là biểu tượng tâm linh đã tồn tại trên ngàn năm, ít nhất từ thời nhà Lý khi đức Thánh Nguyễn chọn đỉnh núi Bái Đính làm nơi tu hành, lấy xung quanh làm vườn "Sinh dược" để cứu dân độ thế. Dấu chân của người in dầy đặc trên các bến bãi, sông ngòi, khe suối, đầu non... với bao huyền thoại, huyền tích lưu truyền hàng ngàn đời, làm cho cả vùng Hoa Lư, Bái Đính trở thành vùng huyền thoại, thiêng liêng, lấp lánh sắc màu văn học dân gian. Xa hơn, từ thời Đinh đến Tiền Lê, Bái Đính là vùng chiến lược về quân sự và kinh tế, là cửa ngõ phía Tây của kinh đô Hoa Lư tồn tại suốt gần nửa thế kỷ để xây dựng quốc gia Đại Cồ Việt vững mạnh. Từ đỉnh Bái Đính, nhìn về phía Tây Nam là Khu du lịch hang động Tràng An với những chiếc thuyền như những chiếc là trôi trên dòng sông nguyên thủy, chở du khách khám phá một vùng non nước Ninh Bình, tôi liên tưởng đến các địa danh mà đã một đôi lần được thăm quan như Tam Cốc - Bích Động, Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, động Vân Trình, suối Kênh Gà, rừng Cúc Phương, Khu nhà thờ đá Phát Diệm, quần thể di tích cô đô Hoa Lư, phòng tuyến Tam Điệp, cửa Thần Phù, núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước; được đắm mình trong các lễ hội văn hóa, đặc sản ẩm thực như dê núi Gia Viễn, rượu Kim Sơn, cá rô Tổng Trường... Ninh Bình- một vùng đất nhỏ hẹp, diện tích 1.390 km2, chỉ gấp 2 lần huyện Tân Sơn, số dân trên 900 ngàn người, nhưng dày đặc các giá trị văn hóa du lịch vật thể và phi vật thể, thu hút rất đông du khách trong nước và quốc tế để mang lại nguồn thu đáng kể từ các hoạt động dịch vụ. Các đồng nghiệp của tôi ở Ninh Bình bảo rằng, năm qua tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng GDP trên 16%; cơ cấu kinh tế: Công nghiệp- xây dựng 47,4%- nông nghiệp 16,2%- dịch vụ 36,4%. Với trên 3 triệu lượt khách, trong đó có 185 ngàn lượt khách lưu trú, ngành du lịch đạt giá trị 559 tỷ đồng. Thu ngân sách của tỉnh đã đạt 3.100 tỷ đồng. Năm 2011 này sẽ hoàn thành giai đoạn 2 chùa Bái Đính, gắn du lịch tâm linh với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, ẩm thực, điền dã...chắc chắn lượng khách sẽ thu hút về nhiều hơn. Chưa kịp tìm hiểu nhiều về tỉnh bạn, chưa biết du lịch được xác định ở tầm quan trọng nào, nhưng đầu xuân hành hương về miền đất cố đô Hoa Lư thấy quy mô "ăn chơi" theo nghĩa du lịch có thể đoán biết chỉ một vài năm nữa thôi ở đây sẽ có những "thiên đường", khi ấy sẽ có tới mấy chục phần trăm dân số sẽ làm du lịch. Và như phương, mục tiêu Đại hội Đảng bộ Ninh Bình đề ra là đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và đưa tỷ trọng du lịch lịch vụ chiếm 42% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Rời tỉnh bạn, tôi lắng đọng bao điều về những giảng giải về tâm linh, truyền thống một vùng đất thiêng của vị cử nhân có mái tóc bạc trắng, cùng sự hiếu khách, tận tình của các đồng nghiệp như anh Toàn, anh Bằng, anh Đông, anh Mai, anh Vựng... ở Báo Ninh Bình. Đôi dòng ghi chép này cũng là một cách để một du khách như tôi tri ân cõi thiêng Bái Đính, tri ân người bạn vong niên đất cố đô... N.S
|
| Lê Xuân Đĩnh - người con ưu tú của đất Tổ |
Viết bởi nguyensan 21:45 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Phóng sự |
|
Chuyện kể về anh hùng LLVTND Lê Xuân Đĩnh Ngày 30-1- 2011, Chủ tịch nước nguyễn Minh Triết có quyết định số 164/QĐ-CTN về việc truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 30 cá nhân thuộc Bộ Quốc phòng. Trong số 30 Anh hùng LLVTND được truy tặng đợt này có một người con ưu tú của đất Tổ. Anh là Lê Xuân Đĩnh - người xóm Phong Vân B, thôn Phù Phong, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao. Dưới đây là truyện ký của nhà báo Nguyễn Sản về liệt sĩ, Anh hùng LLVTND Lê Xuân Đĩnh. Kỳ I: Mang hình bóng quê hương ra trận Phù Phong đất mẹ yêu thương Xã Cao Xá nằm bên hữu ngạn sông Thao. Đó là một vùng đồng bằng trù phú, bốn mùa cây lá tốt tươi. Nhưng dưới chế độ thực dân phong kiến, cuộc sống của người dân nơi đây luôn cơ cực. Bởi vậy, trong hai ngày 18, 19 - 8 - 1945, sau khi có lệnh Tổng khởi nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Cao Xá nhất tề đứng lên lật đổ ách đô hộ, thành lập chính quyền cách mạng. Không có vinh dự là chủ nhân của cách mạng tháng Tám, nhưng một thế hệ sinh ra và lớn lên trong bão táp cách mạng lại có sứ mệnh cao cả là bảo vệ thành quả mà lớp cha anh đã giành được. Lê Xuân Đĩnh là một trong lớp người đó. Anh sinh ngày 20- 10- 1948, là con thứ hai của một cặp vợ chồng nông dân nghèo ở xóm Phong Vân B, thôn Phù Phong. Bố anh là Lê Đình Chuyển. Ông là người sớm giác ngộ cách mạng, hăng hái tham gia các công tác ở địa phương. Khi Đĩnh được gần 2 tuổi cũng là lúc bố anh được kết nạp vào Đảng. Đĩnh có bốn anh em, thì cả ba người con trai đều tham gia quân đội, trực tiếp cầm súng đánh Mỹ bảo vệ Tổ quốc, chỉ có cô em út Lê Thị Tình ở nhà trông nom bố mẹ. Khác với người anh cả Lê Đình Uyển, Lê Xuân Đĩnh chỉ có 6 năm thơ ấu sống trong âm hưởng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Khi miền Bắc được giải phóng, anh được cắp sách đến trường, là những “trí thức” đầu tiên của làng quê. Thấm nỗi thiệt thòi của cha anh, Lê Xuân Đĩnh ham học từ nhỏ. Nhiều xã viên HTX Phù Phong khi ấy vẫn thường lấy tấm gương chăm học của cậu Đĩnh con bà Mạc ở Phong Vân để răn dạy cháu con. Sáng đi học, chiều giúp bố mẹ chăn trâu. Bên bờ kênh Cao Xá, lúc nào gặp Đĩnh, dân làng đều thấy cậu bé vừa chăn trâu, vừa cầm quyển sách học bài. Đôi khi lúc rỗi, Đĩnh còn thổi sáo, tấu lên những khúc nhạc đồng quê da diết. Học xong cấp II trường Làng, Đĩnh về Việt Trì học cấp III. Từ nhà đến trường hơn chục cây số, ngày ngày Đĩnh phải đi nhờ xe đạp của một người bạn. Có hôm phải cuốc bộ. Mãi đến năm cuối cấp, bố mẹ mới sắm cho con được cái xe đạp “thiếu niên Liên Xô” để đến trường. Từ khi Đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc, ở các làng quê, đâu đâu cũng sục sôi phong trào thanh niên xung phong nhập ngũ, ra tiền tuyến đánh giặc. Đang học năm cuối cấp, Đĩnh cũng nhiều lần viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Đã có gia đình đã tổ chức liên hoan tiến anh lên đường, nhưng chỉ chưa đấy tháng, Đĩnh lại về. Với chiều cao chỉ nhỉnh hơn mét rưỡi, cân nặng chưa quá bốn mươi, anh không thể toại nguyện ước mơ trở được cầm súng lên đường đánh Mỹ. Rồi đến tháng 8 - 1967, Đĩnh có giấy báo nhập học trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Ngày đó, việc một người được vào đại học trở thành “sự kiện” của cả thôn Phù Phong. Bên cạnh niềm vui về sự thành đạt của con là nỗi lo chu cấp cơm áo của cha mẹ. Mỗi khi nhận những đồng tiền bán con lợn, con gà, mớ rau, thúng thóc của bố mẹ gửi xuống cho con, lòng Đĩnh lại trĩu nặng nỗi ưu tư, rưng rưng xúc động. Chàng sinh viên nhà nghèo thường phải chắt chiu từng thếp giấy, mảnh vải để bố mẹ đỡ vất vả. Đĩnh thường chia sẻ với người bạn rất thân cùng lớp là Nguyễn Văn Sắc quê ở Thái Bình những chuyện về “thập nhị tứ hiếu”. Anh bảo bạn: Người nào không đối xử tốt với bố mẹ thì không thể có lòng tốt với người khác, và nếu có chỉ là giả tạo. Vì thế, mấy năm học đại học, anh luôn cánh cánh nhớ về cái xóm nhỏ Phong Vân 2 của mình. Nơi ấy có bố mẹ, anh em đang thắt lưng buộc bụng nuôi anh ăn học. Nơi ấy anh có tuổi thơ kham khổ mà vui, và đặc biệt có cô bạn gái cùng xóm rất thân. Bố mẹ anh đã có lễ gửi trầu cau bên ấy, chờ ngày hai đứa nên duyên... Xếp bút nghiên, lên đường đánh giặc Cuộc chiến tranh phá hoại của địch ngày càng diễn ra ác liệt. Ngày 17-7-1967, Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước. Hưởng ứng Lời kêu gọi thiêng liêng của Người, cả hậu phương lớn miền Bắc, tiền tuyến lớn miền Nam đều dấy lên khí thế thi đua “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Trong phong trào “Ba sẵn sàng” do Trung ương Đoàn phát động, tuổi trẻ miền Bắc nguyện sẵn sàng lên đường nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần. Thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mỹ cứu nước luôn biết lấy các hành động xả thân vì Tổ quốc làm lý tưởng, lấy sự cống hiến cho đất nước làm niềm vui, lẽ sống của đời mình. Khi anh hùng Lê Mã Lương khẳng định giá trị mới của cuộc sống: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, đã thôi thúc lớp lớp tuổi trẻ hăng hái lên đường ra mặt trận: “Nước còn giặc còn đi đánh giặc/ chiến trường giục giã bước hành quân”. Không chỉ có tuổi trẻ ở các vùng quê, các nhà máy, công trường, cơ quan…lên đường đánh giặc, mà học sinh, sinh viên các trường phổ thông đại học, trung học chuyên nghiệp cũng xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. CCB Dương Văn Hiểu, giờ là Tiến sĩ kinh tế - giảng viên chính Trường Đại học Nông nghiệp I kể: Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ngày 24-8-1970, gần 400 sinh viên của trường đã lên đường nhập ngũ. Chúng tôi là những tân sinh viên, vừa chân ướt chân ráo nhập trường, những sinh viên năm cuối, những kỹ sư vừa tốt nghiệp...đã cùng ký tên vào lá cờ truyền thống “Tiền tuyến gọi, chúng tôi sẵn sàng” của Đoàn trường. Lá cờ ấy là một trong những kỷ vật hiện được lưu giữ tại Phòng truyền thống Đại học Nông nghiệp I. Ngày đó, Lê Xuân Đĩnh và chúng tôi “xếp bút nghiên”, rời giảng đường đi đánh giặc thật nhẹ nhàng, thanh thản. Ai cũng coi đó là nghĩa vụ thiêng liêng của tuổi trẻ, là một lựa chọn tất yếu, không thể khác. Sau 4 tháng khoá huấn luyện tân binh, Lê Xuân Đĩnh và đồng đội được cử đi học lớp đào tạo kỹ thuật pháo binh, thông tin, trinh sát của trường Hạ sĩ Sư đoàn 325. Hoàn thành chương trình học tập, mỗi người về nhận nhiệm vụ cán bộ tiểu đội, trung đội các đơn vị chiến đấu. Đĩnh về Đại đội 15 - đại đội chủ lực của thuộc Trung đoàn 18. Tháng 4- 1972, sau khi giải phóng tỉnh Quảng Trị, Lê Xuân Đĩnh cùng đồng đội được giao nhiệm vụ bảo vệ Thành Cổ và vùng đất mới giải phóng. Các anh đã đã có mặt ngay từ trận đánh đầu tiên của đơn vị chống địch lấn chiếm vào tháng 5 và tháng 6 tại bờ Bắc sông Mỹ Chánh, huyện Hải Lăng. Theo đồng chí Trịnh Văn Trung, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 14, Trung đoàn 18 - bạn đồng môn với Lê Xuân Đĩnh ở trường đại học: - Trải qua những ngày chiến đấu ác liệt mùa hè năm 1972 ở chiến trường Thành Cổ và những trận đánh chống địch lấn chiếm, Lê Xuân Đĩnh đã lập công xuất sắc, được Thủ trưởng Sư đoàn 325 tặng nhiều Bằng khen, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được kết nạp vào Đảng ngay sau trận đánh ngày 19-6- 1972. Anh được phong quân hàm vượt cấp từ thiếu úy lên thượng úy. Trong 81 ngày đêm chiến đấu kiên cường bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị, đại đội pháo của Lê Xuân Đĩnh đã cùng các đơn vị bộ binh lập công xuất sắc, góp phần viết nên bản anh hùng ca một thời máu lửa vang dội mãi đến mai sau. Bác Đỗ Trung Biên hiện là Chủ tịch Hội CCB xã Cao Xá. Gần bốn chục năm trước, bác cũng là lính Sư đoàn 325, cùng chiến đấu tại mặt trận Trị Thiên - Huế với người đồng hương Lê Xuân Đĩnh. Lúc đầu bác ở Đại đội 1 bộ binh, sau chuyển sang Đại đội 18 thông tin của Trung đoàn 18. Bác Biên kể rằng, dạo đó, do hai đơn vị đóng quân gần nhau nên bác thường đến thăm anh Lê Xuân Đĩnh. Những lần như thế, bác thường được nghe đồng đội của anh Đĩnh kể về gương chiến đấu ngoan cường của Đại đội trưởng Đại đội 15. Cũng trong những lần gặp gỡ Biên, anh Đĩnh thường chia sẻ nỗi nhớ quê hương, gia đình; cả nỗi buồn thoáng qua khi biết người con gái cùng quê mà anh yêu đã xây dựng gia đình, có con. Như người anh, Lê Xuân Đĩnh nhắn nhủ Đỗ Trung Biên đừng làm gì để hổ thẹn với truyền thống của quê hương, gia đình; hãy là một chiến sĩ quả cảm trên chiến trường Trị Thiên- Huế đầy cam go, ác liệt. Kỳ II: Sáng ngời phẩm chất anh hùng Lên điểm cao 200 làm “mắt pháo” Đại tá Bùi Đình Đắc, Phó chủ tịch Hội CCB thành phố Hà Nội. Thời kỳ ở mặt trận Quảng Trị, năm 1974, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 18, Sư đoàn 325. Trong cuộc Hội thảo về tấm gương Lê Xuân Đĩnh do chỉ huy Trung đoàn 18 tổ chức tháng 6 năm ngoái tại Bắc Giang, người lính già bồi hồi nhớ lại trận đánh vào căn cứ pháo binh của địch trên cao điểm 246 cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 1974: Năm 1974, tại miền Tây Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế, quân đội Ngụy thường xuyên đưa quân lấn chiếm vùng giải phóng và dùng pháo binh bắn sang ta, gây nhiều tội ác cho nhân dân. Theo chỉ đạo của cấp trên: Phải chủ động trừng trị quân địch để bọn chúng không gây thêm tội ác, các đại đội pháo binh 14, 15 sẽ dùng súng DKB làm hoả lực tiêu diệt các mục tiêu: Trận địa pháo binh của địch mới xây dựng nằm phía Đông quốc lộ 1A, phía Nam sông Mỹ Chánh; Sở chỉ huy Sư đoàn Thủy quân lục chiến Ngụy; Kho hậu cần cùng phương tiện chiến tranh của địch ở khu vực này. Sau khi nhận nhiệm vụ, Lê Xuân Đĩnh trình bày trước chỉ huy Trung đoàn phương án tác chiến và tổ chức cho đại đội khai thực hiện. Phương án của Đĩnh là: Phải táo bạo, bất ngờ, không để địch kịp trở tay; phải bắn trúng mục tiêu, bắn áp đảo ngay từ những loạt đạn đầu tiên để đich không thể phản pháo gây tổn thất cho quân ta. Muốn vậy phải có đài chỉnh pháo ở một điểm cao càng gần mục tiêu càng tốt. Không ai khác, chính đại đội trưởng Đĩnh đẫ đề nghị cấp trên cho anh được dẫn một tổ trinh sát gồm 4 người, luồn sâu vào cao điểm 200 nằm trong vùng địch kiểm soát, áp sát với căn cứ của chúng. Vượt qua rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, tổ trinh sát của đại đội trưởng Đĩnh đã lên được điểm cao, lập được đài thông tin để chỉnh tầm pháo bắn. Trận pháo kích đầu tiên của Đại đội 14, 15 được thực hiện lúc 13h30 phút ngày 3-9- 1974; đợt pháo kích thứ hai diễn ra sau đó hơn 1 tiếng đồng hồ. Nhờ kết quả quan sát trực tiếp của anh em tổ trinh sát để chỉnh tọa độ nên pháo của ta như có “mắt”, bắn rất chính xác. Chỉ sau ít phút đã nhanh chóng hủy diệt hoàn toàn trận địa pháo binh, Sở chỉ huy Sư đoàn Thủy quân lục chiến, kho hậu cần của địch, trước khi chúng có thể trở tay, phản pháo, gây thương vong cho bộ đội ta. Tổ trinh sát của Lê Xuân Đĩnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm “mắt pháo”, góp phần quan trọng vào chiến công của Trung đoàn 18 và các đơn vị phối hợp. Nhưng khi chưa kịp rút ra thì cả tổ đã bị một trung đội thám báo của địch phát hiện, bao vây. Một trận chiến không cân sức đã diễn ra trên điểm cao 200. Trong một hoàn cảnh ngặt nghèo, những phẩm chất anh hùng của người Đại đội trưởng - Tổ trưởng Lê Xuân Đĩnh đã tỏa sáng. Nhận hy sinh về mình để đồng đội được an toàn Biên chế Tổ trinh sát làm “mắt pháo”, ngoài Tổ trưởng Lê Xuân Đĩnh còn có Lê Xuân Đường (quê Hà Tĩnh), Phạm Xuân Nguyên (quê Hải Phòng) và Lê Đức Gần (quê Thanh Hóa). Họ phân công nhau, người làm nhiệm vụ trinh sát, người làm kế toán pháo binh, tính toán các phần tử bắn, người đảm bảo thông tin vô tuyến điện chuyển các thông số kỹ thuật về trận địa pháo của ta. Với một “kíp” chiến đấu ăn ý như thế nên chỉ sau đôi, ba quả pháo đầu tiên, các phần tử bắn của đơn vị đã được hiệu chỉnh kịp thời theo thông tin dẫn dắt từ đài quan sát trên điểm cao 200. để đánh trúng nhanh, huỷ diệt gọn mục tiêu. Anh Lê Xuân Đường, hiện ở thôn Kỳ Sơn, xã Kỳ Liên, huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh); anh Phạm Xuân Nguyên, hiện ở xóm 9, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) mấy năm trước đã lặn lội tìm về xóm Phong Vân B, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao thăm gia đình Lê Xuân Đĩnh. Những người coi “sự hy sinh của anh Đĩnh để mình được sống” đã xúc động kể lại với anh Lê Xuân Định- em trai Lê Xuân Đĩnh- về những giờ phút cuối cùng chói sáng của người tổ trưởng trinh sát năm xưa. Anh Đường kể: -Trước giờ pháo binh ta trút bão lửa xuống mục tiêu của địch, bốn anh em chúng tôi nhiều lần cùng nắm tay nhau thề quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Họ chia nhau từng gói lương khô, từng miếng nước, giành nhau việc cảnh giới địch để đồng đội được chợp mắt chờ giờ G. Sau đợt pháo thứ hai, điện từ sở chỉ huy báo mục tiêu đã bị tiêu diệt, chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được lệnh cho tổ rút lui. Ráng chiều đã trùm lên điểm cao 200. Anh Đĩnh chỉ huy mọi người thu dọn dụng cụ, máy móc, thiết bị để chuẩn bị rút. Nhưng ngay sau đó, anh Đĩnh lại nói: Tất cả ngồi im dưới giao thông hào vì bọn thám báo đã “đánh hơi” thấy, chờ trời tối mới rút được! Ngồi dưới giao thông hào quan sát, tôi thấy có khá đông bọn địch ở dưới chân đồi. Một lúc sau, khi tôi đang nhìn xuống phía chân đồi thì bỗng có tiếng hô từ phía sau: “Thả súng xuống. Giơ tay lên”. Như một phản xạ tự nhiên, tôi quay súng lại bắn liền 5- 6 phát. Tôi nhìn thấy một bóng áo rằn ri cách tôi chừng 10 mét nhảy qua giao thông hào lăn xuống bờ đất bên dưới. Cùng lúc đó, có tiếng súng AK phía sau lưng tôi. Tôi lùi lại chỗ anh Đĩnh và Nguyên ngồi lúc trước và tiếp tục nổ súng. Phía sau tôi, anh Đĩnh cũng đang cầm khẩu AK nhả đạn. Lúc đầu vì không rõ lực lượng của chúng tôi nên khi thấy chúng tôi bắn, bọn thám báo nằm rạp cả xuống, bắn như vãi đạn. Nhưng khi chỉ thấy tiếng của hai khẩu AK thay nhau nhả đạn, biết đối phương chỉ có vài người nên lũ giặc quần áo rằn ri nhổm cả dậy và hô: - Bắt sống Việt cộng! Bị cả trung đội thám báo địch bao vây, Đại đội trưởng Lê Xuân Đĩnh vẫn rất bình tĩnh, vừa bắn yểm trợ, vừa lệnh cho chúng tôi rút xuống chân đồi. Khi tôi đang chần chừ định ở lại chiến đấu cùng Đại đội trưởng thì anh vừa đạp vào chân tôi, vừa nói như ra lệnh: “Rút ngay”. Tôi thấy anh Đĩnh vừa bắn, vừa di chuyển sang hướng khác, mỗi lúc một cách xa tôi hơn. Tôi hiểu anh Đĩnh đang thu hút địch về phía mình để đồng đội rút lui an toàn. Lợi dụng lúc địch đang tập trung sự chú ý về phía anh Đĩnh, tôi vai đeo máy, tay cầm súng đã chạy nhanh xuống phía chân đồi. Một lúc sau, tôi không còn nghe thấy tiếng súng AK của anh Đĩnh bắn ở phía trên đồi nữa. Chắc anh Đĩnh đã hết đạn hoặc đã bị hy sinh? Đi suốt đêm hôm đó, đến tận 6 giờ sáng hôm sau, tôi mới về được đến Đại đội 15. Hai ngày sau, Nguyên và Gần quần áo ướt đẫm, mắt thâm quầng, dáng vẻ mệt mỏi từ trong rừng đi ra để về đơn vị. Gặp lại, ba anh em chúng tôi nhìn nhau, rồi ôm chầm lấy nhau mà khóc. Ít ngày sau trận chiến đấu ngày 3-9-1974 diễn ra, đơn vị chúng tôi đã tập trung để rút kinh nghiệm. Chúng tôi đã tường thuật lại toàn bộ diễn biến trận đánh và sự hy sinh dũng cảm của Đại đội trưởng Lê Xuân Đĩnh. Anh đã nêu tấm gương sáng về thành tích chiến đấu, sự hy sinh cao cả để bảo vệ đồng chí, đồng đội. Toàn Trung đoàn 18 của chúng tôi đã phát động phong trào noi gương chiến đấu dũng cảm, dám nhận sự hy sinh để bảo vệ đồng đội của Lê Xuân Đĩnh và đề nghị cấp trên truy tặng anh danh hiệu Anh hùng LLVTND. Từ đó đến nay, tôi luôn khắc khoải về một điều: Anh Đĩnh là người chỉ huy cao nhất của tổ đài, anh hoàn toàn có thể phân công một trong ba chúng tôi ở lại đánh cản địch để cả tổ rút lui. Như thế thì ít nhất một hoặc nhiều hơn nữa trong số ba người chúng tôi sẽ bị hy sinh và anh có thể rút lui ra ngoài an toàn. Nhưng anh đã không làm như thế. Trong giây phút hiểm nghèo đó, anh đã đứng ra nhận sự hy sinh về mình để cho chúng tôi, những chiến sĩ của anh được sống và trở về. Kỳ III: Một kết thúc có hậu 37 năm sau ngày Lê Xuân Đĩnh hy sinh, ngày 30-1- 2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết có quyết định số 164/QĐ-CTN về việc truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Lê Xuân Đĩnh. Để có được sự ghi công và tôn vinh, dù là muộn mằn này phải kể đến nỗ lực của anh em đồng đội, các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn 18, Sư đoàn 325 và đảng ủy, chính quyền xã Cao Xá. Ngay sau chiến dịch bảo vệ vùng giải phóng Trị Thiên- Huế, Trung đoàn 18 đã làm các thủ tục cần thiết để cấp trên truy tặng Lê Xuân Đĩnh Huân chương Chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng LLVTND. Nhưng do sau đó, đơn vị nhận nhiệm vụ tham gia chiến dịch tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, nên các thủ tục hành chính ấy cũng theo bước chân chiến hành quân về giải phóng Sài Gòn. Đến ngày chiến thắng, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị thay đổi. Đồng đội của Lê Xuân Đĩnh cũng mỗi người một nơi. Ba người còn lại của tổ trinh sát là anh Đường, anh Nguyên, anh Gần đều ra quân trở về quê nhà. Các bạn anh thời sinh viên như Nguyễn Văn Sắc, Dương Văn Hiểu, Trịnh Văn Trung, Trần Lê Hưng...trở lại trường tiếp tục học tập và công tác. Sau này, cứ vài năm môt lần, các CCB của Trung đoàn 18 lại tổ chức gặp mặt truyền thống. Lần gặp mặt nào cũng vậy, anh em đều nhớ đến Lê Xuân Đĩnh, nhắc nhở nhau một “việc cần làm ngay” là đề nghị cấp trên xét truy tặng danh hiệu cao quý nhất cho người Đại đội trưởng đã chiến đấu ngoan cường, hy sinh anh dũng trên chiến trường Quảng Trị năm xưa. Năm 2007, các bạn thờ sinh viên của Lê Xuân Đĩnh ở Trường Đại học Nông nghiệp I đã góp sức để xuất bản cuốn “Nhật ký thơ thời chiến (1970- 1974)” của Lê Xuân Đĩnh. Trên Websitte của nhà trường đã lập một diễn đàn “Lê Xuân Đĩnh- người anh hùng của chúng tôi” đăng tải một số bài thơ của Lê Xuân Đĩnh và các bài viết về anh của một số đồng đội thời sinh viên như Phí Văn Kỷ, Nguyễn Văn Sắc, Trịnh Văn Trung, Trần Lê Hưng, Dương Văn Hiểu... Đó đây trên các báo, và nhất là tại Hội thảo về thành tích chiến đấu của Liệt sĩ, Đại đội trưởng Lê Xuân Đĩnh của Ban liên lạc bạn chiến đấu Trung đoàn 18, Sư đoàn 325 tổ chức năm 2010 tại chính Sở chỉ huy Trung đoàn 18, đã có nhiều ý kiến nhắc lại tấm gương chiến đấu, hy sinh quả cảm của một người con xóm Phong Vân B trên đất Tổ Hùng Vương. Tiến sĩ Dương Văn Hiểu kể về những ký ức khi cùng chiến đấu với liệt sĩ bên dòng sông Âu Lâu gần bốn mươi năm trước. Giảng viên Nguyên Văn Sắc- người con của quê lúa Thái Bình- bạn tri kỷ của Lê Xuân Đĩnh bên chiến hào Thành Cổ kể về “người con hiếu thảo, người bạn chân tình, sống thủy chung và mẫu mực” năm xưa. Đại Tá Bùi Đình Đắc, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 18 nói về “trận đánh ngày ấy” mà Đĩnh đã anh dũng hy sinh. Kỹ sư Trịnh Văn Trung kể lại những hồi ức của mình về người lính sinh viên Lê Xuân Đĩnh. Đặc biệt, nguyên Thiếu úy Phạm Xuân Nguyên, Chiến sĩ Lê Xuân Đường là hai trong số 3 người được Lê Xuân Đĩnh chấp nhận hy sinh để cứu sống là nhân chứng sống trực tiếp đều khẳng định thành tích vẻ vang và hành động hy sinh cao cả, dũng cảm của người chỉ huy tổ trinh sát luồn sâu của mình trong trận đánh ngày 3-9- 1974. Đó là phẩm chất của người anh hùng LLVTND. Đại tá Vũ Trọng Hoá, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9, nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 18, nguyên Trưởng Khoa Trinh sát Học viện Lục quân Đà Lạt nhắc lại tinh thần “Thông báo kết luận” số 179 ngày 28-8- 2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Hướng dẫn số 334 ngày 25-3- 2009 của Tổng cục Chính trị về tiếp tục tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND cho tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong các cuộc kháng chiến và cho biết: Tháng 5- 2009 chúng tôi - những đồng đội cũ của Đĩnh - lại tiếp tục bổ sung hồ sơ, hoàn tất các thủ tục cần thiết để đề nghị cấp trên xem xét. Các nhân chứng trong trận đánh ngày 3-9-1974 và các đồng chí chỉ huy đơn vị ngày đó như Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy (nguyên Phó sư đoàn trưởng 325), Đại tá Phạm Hồng Lẫm (nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 18), Đại tá Hồ Sĩ Khuyên (nguyên Chính ủy Trung đoàn 18), Đại úy Lê Trung Hưng (nguyên Đại đội phó Đại đội 15- người trực tiếp chỉ huy pháo binh DKB tấn công tiêu hủy mục tiêu địch chiều 3-9- 1974) cùng 136 cán bộ, chiến sĩ là những bạn chiến đấu cùng thời đã một lần nữa khẳng định thành tích xuất sắc và hành động anh hùng của Lê Xuân Đĩnh, cùng ký đơn đề nghị Nhà nước truy tặng anh danh hiệu Anh hùng LLVTND. Ngày 5-10- 2009, Đảng ủy, UBND, UB MTTQVN xã Cao Cá huyện Lâm Thao cũng đã có văn bản gửi lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2, Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Hội đồng Thi đua khen thưởng Trung ương đề nghị truy tặng Liệt sĩ Lê Xuân Đĩnh - người con của quê hương - danh hiệu Anh hùng LLVTND. Trong không khí tiến tới kỷ niệm 36 năm ngày chiến thắng 30-4, vừa qua, tôi về lại Cao Xá. Đến UBND xã tôi thấy trên bàn Phó chủ tịch Lê Xuân Bình giấy mời của Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn BB18 mời lãnh đạo xã về dự Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND truy tặng liệt sĩ Lê Xuân Đĩnh do Trung đoàn tổ chức vào ngày 26-4 tại bản doanh của đơn vị ở xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Đồng chí Chủ tịch UBND xã Cao Ngọc Hán nói rằng: Thế là nguyện vọng của địa phương đã thành hiện thực. Anh hùng Lê Xuân Đĩnh mãi mãi là tấm gương để thế hệ trẻ Cao xá tự hào và noi theo. Tôi theo con đường bê – tông quanh quanh vào xóm Phong Vân B. Phía bên trái đường vào là ngôi nhà anh Đĩnh ở năm xưa, giờ gia đình người em trai Lê Xuân Định ở. Ngôi nhà xây cấp 4 đã thay thế hoàn toàn ngôi nhà lợp lá, vách trát tooc-xi mà anh Đĩnh và gia đình từng ở. Phía bên phải ngôi nhà, anh Định lập bàn thờ người anh trai. Ngoài bức chân dung truyền thần liệt sĩ đặt chính giữa là nhiều chứng nhận huân, huy chương, bằng khen. Góc tấm bằng khen, người em trai gài tấm ảnh anh Lê Xuân Đĩnh đang thổi sáo. Nhìn anh thật trẻ, như những năm tháng tuổi hai mươi của anh góp phần làm nên chiến thắng, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của toàn dân tộc. Sau ngày hoà bình, bao đồng đội năm xưa của Lê Xuân Đĩnh đã về dưới mái nhà này? Bao người còn chưa về được? Nhưng họ là người đã góp những thanh âm chủ đạo đạo để làm nên bài ca anh hùng Lê Xuân Đĩnh. Bài ca ấy là một phần không thể thiếu của bản anh hùng ca bất tử trên chiến trường Trị Thiên- Huế năm xưa. Nguyễn Sản- Thanh Văn
|
| Phú Đa vào mùa chè mới |
Viết bởi nguyensan 21:41 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Chung |
|
Phú Đa vào vụ chè mới Nguyễn Sản Sau một mùa Đông với nhiều đợt rét đậm, rét hại khác thường, cây chè trên hầu hết diện tích do Công ty Chè Phú Đa quản lý bị hạn chế sự sinh trưởng và phát triển. Dù đã được tủ gốc và chăm sóc đúng kỹ thuật, nhưng đợt trổ búp xuân vẫn chậm hơn mọi năm. Vì thế đến đầu tháng 4, vụ thu hái, chế biến chè năm 2011 mới bắt đầu. Trên đường dẫn chúng tôi đi thăm diện tích chè của các đội nằm rải rác ở các xã Thục Luyện, Minh Đài, Xuân Đài, Long Cốc…, ông Nguyễn Văn Liệu, Giám đốc Công ty hào hứng kể chuyện làm chè. Đến thời điểm này, tổng diện tích chè của công ty là 1450 ha, trong đó có 37 ha chè mới trồng. Do có chiến lược đầu tư chiều sâu cho khâu nguyên liệu, nên từ giai đoạn kiến thiết cơ bản đến khi đi vào khai thác, hàng năm Công ty đều chỉ đạo công nhân thực hiện nghiêm túc các biện pháp kỹ thuật thâm canh bền vững để cây chè vừa cho năng suất cao trong hiện tại, vừa trẻ lâu để kéo dài chu kỳ kinh doanh. Với chè trồng mới, tổng giá trị đầu tư cho 1 ha là trên 90 triệu đồng, gấp hàng chục lần so với lối trồng chè quảng canh. Khi chè đã vào giai đoạn kinh doanh, năng suất chè búp tươi bình quân toàn công ty đạt 16-18 tấn/ha, theo thời giá năm 2010 thì doanh thu là 56 triệu đồng. Trong tổng thu từ 1 ha chè, người nhận khoán đầu tư vật chất (gồm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới…) cho cây trồng tối thiểu chiếm 25%; còn lại là công lao động và lãi. Trên một số diện tích ở những vùng thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, điều kiện canh tác và được đầu tư thâm canh cao; năng suất chè đã đạt tới 30-34 tấn/ ha, doanh thu cao nhất là 120 triệu đồng. Đây là một trong những kỷ lục về năng suất và thu nhập trên một đơn vị diện tích của ngành chè Việt Nam. Toàn công ty hiện có 2 nghìn công nhân, trong đó 75% ở khu vực sản xuất nguyên liệu, 25% còn lại ở khu vực chế biến công nghiệp. Bằng việc ứng dụng cơ giới hóa vào khâu hái chè nên những năm gần đây, diện tích chè mà mỗi lao động nhận khoán đã tăng lên so với hái chè thủ công, mang lại thu nhập cao hơn cho họ. Trước đây, bình quân mỗi lao động chỉ có thể nhận khoán chừng 3 - 4 sào chè, nay hái chè bằng máy, họ có thể đảm nhận tới trên dưới 1 ha. Tuy nhiên, vào đầu vụ, thực hiện quy trình kỹ thuật, công ty chỉ đạo công nhân nhận khoán phải hái thủ công để bảo vệ cây chè và tạo độ đồng đều búp ở các lứa sau. Vì thế, đầu vụ, mặc dù đã hợp đồng với khoảng 2 nghìn người nhưng nhu cầu lao động của công ty vẫn khá gay gắt. Lên đồi thăm diện tích chè của một số gia đình công nhân các đội sản xuất trên địa bàn xã Thục Luyện (Thanh Sơn), chúng tôi thấy trước mắt trải dài màu xanh mới của đồi chè đang làm búp. Ông giám đốc Công ty khẳng định, đây là một trong số khu vực có năng suất cao nhất. Mấy công nhân đang hái chè lứa 1 ở khoảnh bên khẳng định: - Chỗ chè ấy năm ngoái mỗi ha mang lại trên 80 triệu tiền công cho người nhận khoán! Ông giám đốc giải thích rằng, đó là đã trừ khoảng trên dưới 40 triệu tiền mua vật tư, phân bón đầu tư cho 1 ha chè, phần còn lại 80 triệu như họ nói là tính cả công vào lãi! Tuy nhiên, diện chè cho năng suất tới trên 30 tấn 1 ha như ở đây chưa nhều, bình quân mới đạt trên 15 tấn nên thu nhập thực tế của người lao động sau khi trừ chi phí đầu tư, vẫn tính theo kiểu “lấy công làm lãi” bình quân chỉ đạt trên dưới 40 triệu đồng 1 ha! Gọi là “chỉ đạt” nhưng đấy đã là con số ước mơ của người làm chè ở nhiều nơi. Khi trên các đồi chè, công nhân đã bắt đầu thu hái chè búp lứa 1 thì các nhà máy chế biến đã bắt đầu khởi động dây chuyền. Đến thăm nhà máy chế biến chè của xí nghiệp chè Thanh niên ở xã Minh Đài huyện Tân Sơn, chúng tôi thấy tất cả các bộ phận đã hối hả hoạt động. Anh Nguyễn Tiến Quân, Giám đốc xí nghiệp phân trần: - Thông thường lứa chè đầu tiên do búp chưa đều, đôi khi còn lẫn lá bánh tẻ nên chất lượng chè chưa cao. Sản phẩm chè tốt nhất phải từ đợt búp thứ hai trở đi. Nhà máy của chúng tôi tuy công nghệ hiện đại nhưng công suất chỉ vào cỡ trung bình nên vào chính vụ anh em phải làm 3 ca mới kịp. Nay mai, khi Nhà máy chè Long Cốc hoàn thành thì Xí nghiệp chè Thanh niên mới hết tình trạng quá tải nhất thời. Vào thăm Trung tâm phối trộn sản phẩm của nhà máy chè Phú Sơn, tôi thấy khá đông công nhân đang sàng tuyển, đóng gói thành phẩm. Người phụ trách ở đây cho biết: Bây giờ, khi các nhà máy chế biến chưa vào sản xuất chính thức, lực lượng lao động ở đây còn dư dả nên họ tổ chức làm thủ công để mọi người đều có việc làm, vừa đảm bảo chề được phối trộn kỹ. Công ty chè Phú Đa hiện nay đang sản xuất 8 mặt hàng chè đen xuất khẩu là Pekoe. OP, P, FOP,PS, BPS, F, D. Sản phẩm được xuất sang các thị trường truyền thống. Tuy nhiên, tốc độ xuất khẩu của công ty phụ thuộc vào thị trường, nhà sản xuất phải luôn có “chiến thuật” phù hợp để đảm bảo lợi ích tối đa, đôi khi phải chờ thời, không thể xuất khẩu bằng mọi giá. Vì thế nên sản xuất của Công ty ổn định, lợi nhuận đảm bảo trên cơ sở tận dụng tối đa các giá trị gia tăng. Khi chúng tôi hỏi về triển vọng vụ chè năm nay và giải pháp tổ chức sản xuất theo tinh thần Nghị quyết 11 của Chính phủ, ông Giám đốc công ty cho biết: Năm ngoái Công ty đã đạt sản lượng chè búp tươi 22.700 tấn, năm nay phấn đấu tăng khoảng 5-7%. Từ khi kết thúc vụ sản xuất năm 2010, các đội sản xuất nguyên liệu tập trung đầu tư chăm sóc để cây chè phục hồi nhanh; đồng thời chuẩn bị công cụ sản xuất, mua trữ vật tư, phân bón đề phòng giá cả biến động. Hai nhà máy chế biến chủ động bảo dưỡng máy móc, thiết bị, chuẩn bị phương án sử dụng sản lượng điện theo công suất được ngành điện phân bổ và dự phòng máy phát điện, phương sán sử dụng than trong một số công đoạn gia nhiệt… Công ty triển khai đến tất cả các đơn vị trực thuộc tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, thực hiện tiết kiệm triệt để ở tất cả các khâu, nhất là tiết kiệm điện để giảm chi phí; khai thác sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực, đồng thời cố gắng đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Do từ đầu tháng 4 đến nay, tình hình cấp điện đã được cải thiện, nên đến tháng 5 khi sản xuất nguyên liệu đã vào chính vụ, chúng tôi có thể đẩy mạnh khâu chế biến lên tối đa; phấn đấu từ nay đến cuối năm đạt sản lượng trên 5.000 tấn chè xuất khẩu. Để gia tăng lượng chè xuất khẩu đồng thời có thêm sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước, công ty đang triển khai việc xây dựng một nhà máy với 2 dây chuyền chế biến chè đen và chè xanh công suất 60 tấn chè búp tươi/ ngày tại xã Long Cốc huyện Tân Sơn… Gặp lại Giám đốc Công ty Chè Phú Đa ở gian hàng của doanh nghiệp trong Lễ hội chè Đất Tổ năm 2011 nhân Giỗ Tổ Hùng Vương, ông Nguyễn Văn Liệu phấn khởi thông báo dự án nhà máy chè Long Cốc đã cơ bản hoàn thành khâu giải phóng mặt bằng. Hai nhà máy chế biến chè Phú Sơn và Thanh niên đã chính thức vào vụ sản xuất. Những thông tin ấy giúp tôi thêm niềm tin vàotriển vọng một mùa chè mới của công ty chè 100% vốn nước ngoài trên đất Thanh Sơn. Nguyễn Sản
|
| Giữ mãi sức thanh xuân của ngọn bút |
Viết bởi nguyensan 21:32 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Chung |
|
Suy nghĩ nhân kỷ niệm 49 năm ngày báo Đảng tỉnh xuất bản số đầu: Giữ mãi sức thanh xuân ngọn bút Nguyễn Sản Thực hiện Quyết định của Ban thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ, ngày 1-5- 1962, báo Phú Thọ số 1 đã ra mắt bạn đọc trong sự kỳ vọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Phú Thọ. Trong niềm tin yêu và hy vọng lớn lao, 49 năm qua, các thế hệ cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nhân viên Báo Phú Thọ đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Báo Đảng tỉnh không chỉ phổ biến tư tưởng, giáo dục chính trị, mà còn là ngọn cờ hướng đạo tư tưởng; tờ báo không những là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể. Báo Phú Thọ luôn thể hiện rõ vai trò công cụ của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân; góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng quê hương đất Tổ giàu đẹp. Là cơ quan của Đảng bộ tỉnh, tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân; với tư cách là một trong những cơ quan truyền thông chủ lực của tỉnh; Báo Phú Thọ luôn được sự lãnh đạo sát sao của BCH, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh uỷ; sự chỉ đạo, tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các tổ chức, đoàn thể; sự quan tâm của đông đảo bạn đọc. Làm nên diện mạo tờ báo Đảng tỉnh trong từng thời kỳ có công sức của các thế hệ cán bộ lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên, công nhân viên Toà soạn; có sự đóng góp của lực lượng thông tin viên, công tác viên; sự tạo điều kiện và hợp tác của nhiều cơ quan, địa phương, đơn vị...49 năm qua, đã có hàng trăm lượt nhà báo, cán bộ, nhân viên từng gắn bó với Toà soạn, cống hiến tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp báo chí, xây dựng báo Đảng ngày càng trưởng thành. Xem lại mỗi bài báo, mỗi tấm ảnh được đăng tải trên mặt báo năm xưa, những người làm báo hôm nay như vẫn có thể hình dung được sự nóng hổi quá trình hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới XHCN những năm sáu mươi, cuộc đấu tranh không kém phần quyết liệt giữa chủ nghĩa cá nhân với tinh thần tập thể, đễ xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Từng trang báo giấy giang ố vàng năm xưa như còn đọng lại khói súng, hơi bom, cho thấy sự khốc liệt và hiên ngang của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại trên miền Bắc; khí thế hừng hực của nhân dân đất Tổ chi viện cho tiền tuyến... Đằng sau mỗi con chữ, mỗi khuôn hình có được trên báo là sự lăn lộn ở từng trận địa pháo, nơi vừa bị địch ném bom, hay ở mỗi bản làng, nơi “thôn cùng xóm vắng” của anh chị em phóng viên, cộng tác viên đã mang lại hơi thở nóng hổi của cuộc sống thời chiến cho tờ báo. Họ không quản ngại gian khổ, hy sinh để có được những thông tin, tư liệu đắt giá mang đến người đọc. Những bài viết nỗi thiếu lương thực, nỗi khan hiếm hàng hoá, chế độ tem phiếu, sổ gạo… thời bao cấp giờ đọc lại nhiều người trẻ tuổi không khỏi bất ngờ về một quá khứ vất vả, thiếu thốn của cha anh... Báo chí không chỉ phản ánh hiện thực mà còn như một nhân chứng của lịch sử. Trong cái thời thiếu thốn vật chất, nhưng dư dả nhiệt huyết cống hiến và niềm vui lao động, nhiều cán bộ, phóng viên của báo gắn bó với từng địa bàn, từng lĩnh vực đã có tác phẩm có tiếng vang, tạo được dư luận xã hội. Hành trình 49 năm xây dựng và phát triển báo Phú Thọ gắn liền với những tên tuổi đã trở thành tác giả trong lòng bạn đọc: Hữu Thung, Hoàng Bào, Vũ Dũng, Triệu Kim Ngân, Đắc Sinh, Trần Thắng, Như Đàm, Hoàng Hải, Thanh Liêm, Hà Chung, Tùng Ngọc... Rồi qua 29 năm sáp nhập tỉnh, sự đóng góp của các cây bút miền Đông như Thanh Long, Xuân Tửu, Hữu Diệu, Mai Thanh, Phẩm Bình, Vũ Quang Đồng, Lã Thế Khanh, Hồng Quân, Trần Vinh, Vương Sơn… cùng với anh chị em ở miền Tây đã góp phần mang lại sự khởi sắc cho tờ báo Vĩnh Phú. Tiếp nối thế hệ đi trước, các thế hệ kế tiếp đã phát huy truyền thống của những người làm báo Đảng tỉnh, không ngừng cố gắng để xây dựng và phát triển báo Phú Thọ ngày càng xứng đáng với vị thế tờ báo của Đảng bộ tỉnh quê hương đất Tổ Hùng Vương. Đội ngũ những người làm báo Phú Thọ ngày nay đã dần được “chuẩn hoá” và “trẻ hoá”, có khả năng ứng dụng công nghệ và tiến bộ kỹ thuật làm cho tờ báo có sức sống trong lòng bạn đọc, đáp ứng tốt công tác tuyền truyền, phục vụ đắc lực sự nghiệp cách mạng, là nhịp cầu gắn bó giữa nhân dân với Đảng, giữa Đảng, nhà nước với nhân dân... Kề vai sát cánh cùng lớp nhà báo đã trưởng thành, đảm nhiệm các cương vị lãnh đạo trong Tòa soạn là thế hệ các nhà báo trẻ được đào tạo cơ bản từ các trường đại học, đã và đang được trang bị thêm lý luận chính trị để vững vàng bản lĩnh nghề nghiệp, tích lũy tri thức và vốn sống thực tế để dần kế tục công việc mà thế hệ đi trước chuyển giao. Kết quả của quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí và nỗ lực để tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, đổi mới công nghệ là những điều kiện cần thiết để báo Phú Thọ tiếp tục phát triển, hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Ban biên tập và cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nhân viên báo Phú Thọ luôn coi sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc hoạt động cao nhất - đó là nguyên tắc chung về tính Đảng của báo chí cách mạng. Tính chất này đòi hỏi báo chí phải đấu tranh kiên quyết chống các tư tưởng thù địch, đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Thực tiễn cuộc sống, thực tiễn cách mạng luôn vận động, nảy sinh những vấn đề mới. Khi có những vấn đề mới phát sinh, báo chí cần có sự chỉ đạo định hướng của các cấp ủy đảng. Hơn nữa, báo chí còn có chức năng tham gia vào tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để Đảng ra quyết định, hướng dẫn dư luận. Trong những trường hợp này, sự chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy là vô cùng quan trọng. Từ đường lối đúng đắn, từng thời kỳ, Đảng định hướng cụ thể cho báo chí thông qua việc xác định các nhiệm vụ mà báo chí phải thực hiện và sự phát triển cụ thể của chính báo chí. Cùng với tính Đảng, tính nhân dân cũng là một nguyên tắc cơ bản. Báo chí phải sống trong nhân dân và trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và sự lo lắng, tình yêu và lòng căm thù, niềm vui và nỗi buồn của quần chúng. Báo chí cách mạng phải hiểu sâu sắc cuộc sống của nhân dân, từ đó mới có thể nói lên, phản ánh đúng những tư tưởng và tình cảm hàng ngày của nhân dân. Tính nhân dân của báo chí biểu hiện ở mối liên hệ giữa báo chí với đông đảo tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động - người sáng tạo chân chính của lịch sử. Báo chí phải phản ánh, đánh giá các hiện tượng và sự kiện của đời sống theo lập trường của nhân dân lao động, đại diện và bảo vệ cho quyền lợi của nhân dân, trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân vì sự công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tính nhân dân luôn thống nhất với tính Đảng. Trong cuộc sống, sự gặp gỡ giữa lòng dân với ý Đảng tạo thành sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn để đạt mục tiêu của cách mạng. Trong hoạt động báo chí, những tác phẩm thông tin, lý giải các sự kiện nóng hổi, những vấn đề sát sườn đặt ra từ đời sống dưới ánh sáng đường lối, quan điểm của Đảng, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân trở thành những tác phẩm gây được tiếng vang lớn, có hiệu quả cao, được đông đảo quần chúng lao động đồng tình. Quán triệt và thực hiện những nguyên tắc- tính chất cơ bản của báo chí cách mạng, với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp và tạo điều kiện của các sở, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức; các địa phương; học tập và làm theo tấm gương đạo đức của lãnh tụ - nhà báo Hồ Chí Minh; tập thể cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nhân viên báo Phú Thọ nguyện trung thành, đoàn kết, không ngừng đổi mới và sáng tạo, xây dựng Báo Đảng tỉnh ngày càng phát triển. Tập thể những người làm báo Đảng phấn đấu có nhiều sản phẩm báo chí đáp ứng được yêu cầu “nhanh, đúng, trúng, hay” phục vụ công tác tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân, để báo Phú Thọ thực sự là “người tuyên truyền tập thể, cố động tập thể, tổ chức tập thể” như Lê-nin đã dạy. Với công việc làm báo Phú Thọ, dù đã từng trải hay mới vào nghề, dẫu là phóng viên được kiêu hãnh đề tên mình dưới mỗi bài viết, hay người biên tập, làm công tác kỹ thuật thầm lặng ẩn danh phía sau mỗi trang báo, tất thảy chúng tôi đều rất thắp lửa trong tim để giữ mãi sức thanh xuân ngọn bút và nhiệt tình lao động sáng tạo. N.S
|
| CHÂM NGÔN THỜI @ |
Viết bởi nguyensan 21:06 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Chung |
|
1. Tình yêu như mạng nhện, chạm vào là dính liền. 2. Tại sao chúng ta cứ hay tưởng rằng vợ người và xe hơi của người hay bơn? Vì cả hai đều dễ khởi động hơn. 3. Đẹp trai để thương nhớ, còn giàu có để lấy làm chồng. 4. Đàn ông cần có tương lai, còn đàn bà cần có quá khứ. 5. Tôi không hiểu dịch cúm gia cầm có ảnh hưởng thế nào tới những tin vịt? 6. Cái cười thành thực nhất là cười ruồi. 7. Thà là nhà kinh điển còn sống hơn là làm người đương thời đã chết. 8. Rượu vang có lợi cho sức khỏe, còn sức khỏe cần để uống rượu vodka. 9. Trí tuệ nhân tạo chẳng là gì so với sự ngốc nghếch tự nhiên. 10. Mỗi khi tôi buộc phải chọn lựa giữa hai tật xấu, tôi thường chọn cái mà tôi chưa bao giờ được thử.
|
| Có những "báu vật" trần gian |
Viết bởi nguyensan 08:37 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (3) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Phóng sự |
|
  Có những "báu vật" trần gian Nguyễn Sản
Không phải vàng bạc, châu báu, chỉ là những cây lá quanh ta nhưng được chăm sóc một cách kỳ khu bởi bàn tay con người từ đời này sang đời khác mà nhiều cây thế trở nên "đáng giá nghìn vàng", trở thành gia bảo của một làng nghề, một dòng họ. Không chỉ là của cải, cây thế còn có ngôn ngữ riêng chứa đựng những thông điệp về nhân cách, tình cảm của con người...
  Sưu tầm "cổ vật" Cây "Mâm xôi con gà" Từ chuyện những cây sanh quý ở làng Vị Khê...
Hai ông Lê Quang Khanh và Phan Văn Minh là những bậc "gạo cội" về sinh vật cảnh ở Nam Định. Trong một cuốn sách mới xuất bản gần đây, hai ông có kể lại câu chuyện về những cây sanh kỳ lạ, bấy nay vẫn được lưu truyền ở thành Nam. Làng Vị Khê, xã Nam Điền tỉnh Nam Định có hai cây sanh thế trực liên chi có thể nói là vô giá, được trồng trước trụ sở UBND xã. Cách đây hơn một thế kỷ, năm 1883, dưới thời nhà Nguyễn, các cụ ở Vị Khê đã gánh bộ hai cây này vào kinh thành Huế dự thi cây cảnh và được vua ban giải nhất, đem lại niềm tự hào lớn lao cho làng xã. Hai cây thế trở thành báu vật thiêng liêng của làng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mấy chục năm trước, khi xã Nam Điền xây dựng trụ sở mới khang trang, chủ nhân của hai cây đã vui lòng biếu tặng để hai cây thế quý trở thành tài sản chung của xã. Sinh thời, Chủ tịch nước Võ Chí Công và Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã từng về Vị Khê thăm quan, ngỏ ý muốn mua hai cây quý về đặt tại quảng trường Ba Đình. Nhưng đây không chỉ là tài sản chung mà còn là kỷ vật thiêng liêng của người dân nên lãnh đạo xã không ai dám bán đi, dù là bán cho Nhà nước. Cũng đã có ý kiến đề xuất "đổi" cây quý lấy 7 km đường nhựa cho xã, được nhân dân khá đồng tình. Khi phương án này đang chuẩn bị được thực thi thì trong trận bão năm 1996, có cành muỗm gãy từ xa bay đến quật gãy một ngọn cây sanh, làm cho cuộc trao đổi bất thành! Về chuyện ngẫu nhiên này, người thì bảo cụ tổ nghề thiêng, người thì nói thành hoàng làng Vị Khê không muốn thất truyền gia bảo (?)! Cũng tại Nam Định, ở vườn cảnh thành phố có cây sanh thế mẫu tử dáng trực có cái đẹp bề thế, cân đối, nghiêm trang; bông tán cây vừa đủ sự ấm cúng nhưng cũng vừa khoáng đạt. Gốc cây to một người ôm không xuể, bộ rễ nổi tỏa đều tám hướng vững vàng, thân uốn xoắn mềm mại theo đúng luật "gốc bồ ngọn chỉ". Toàn thân cây sần sùi, mang dấu tích sự từng trải, tuổi tác. Cây mẫu ôm cây tử như mẹ ôm con âu yếm, dịu dàng. Từ thời phong kiến, trong các cuộc thi sinh vật cảnh, lần nào cây này cũng giành giải nhất. Nguyên cây này có từ đời cao tằng tổ phụ để lại cho ông Vũ Văn Kiệm ở làng Vị Khê, xã Nam Điền. Năm 1970, có người đã trả 5 cây vàng ông cũng không bán. Đến năm 1975, ông Kiệm cùng họ tộc kính tặng cây quý để trồng ở vườn cảnh của thành phố với một cam kết tỉnh vĩnh viễn không được biếu tặng, chuyển nhượng; đồng thời họ Vũ Vị Khê có 3 nhà giáo đang dạy học xa cũng được chuyển về trường làng. Lại có chuyện năm 1982, có đoàn chuyên gia Thụy Điển sang làm việc, thấy cây quý nằn nì xin đổi hẳn một xe Mercedes nhưng cũng không xong. Thế mới biết, nhiều khi cây cảnh lại có giá trị đặc biệt như những báu vật của trần gian. ...đến cây sanh dáng "Mâm xôi con gà" dưới chân núi Nghĩa Lĩnh
Chuyện những cây sanh thành Nam tôi chỉ mới được biết qua sách báo, còn chuyện cây sanh dáng "Mâm xôi con gà" chính ông chủ hiệu vàng Nam Thành ở Việt Trì nói rằng bố con ông mua của một đại gia ở vùng An Khánh, Hà Tây với giá 400.000 USD! Không phải là người sành về cây cảnh, trong một lần đến thăm "Mộc hoa trang" của ông Nam Thành, tôi gặp ông Mai Hoa Thám, người có tay nghề làm cây cảnh, quê Nam Định, đang giúp chủ vườn tạo dáng, tỉa tót cho mấy chục cây quý mới mua về, với mức tiền công hữu nghị là 300 nghìn đồng một ngày. Ông Thám "bình" cho tôi nghe về giá trị của cây. Trước hết đây là cây sanh cổ thụ, bộ rễ nổi tỏa đều các phía, bám chắc vào đá, cùng nhiều rễ sinh khí từ các cành buông xuống làm cho thân cây có thế đứng vững vàng. Đúng là "Thạch mộc tương sinh", cây bám đá mà xanh, mà trường tồn cùng năm tháng. Cả đá và cây được đặt trong lòng chiếc ang hình chữ nhật. Cây dáng trực, bông tán đẹp, tay cành uyển chuyển như những áng mây, nhìn xa lại có hình thù như con gà đặt trên mâm xôi. Nhiều người trong làng chơi cây cảnh cũng đã nói với tôi về "mâm xôi con gà": Đó là một trong đôi, ba cây có giá nhất trong làng cây cảnh hiện nay, vì nó hội tụ được cả 3 tiêu chí của một cây quý: Cổ, kỳ, mỹ - có nghĩa là có tuổi đời cao đến đôi ba trăm năm, có dáng thế kỳ lạ và rất đẹp. Đối với nghề chơi cây cảnh, bon sai, dường như người đời đã gửi gắm hồn vía vào dáng cây màu lá, làm nên giá trị đặc biệt mà ở đó hàm chứa những chuẩn mực đạo đức, những triết lý nhân sinh. Chả thế mà có người từ Đà Nẵng không tiếc tiền, đáp máy bay ra Hà Nội rồi lên Việt Trì vài tiếng chỉ cốt để mục sở thị "mâm xôi con gà" của ông chủ hiệu vàng. Sở dĩ cây quý không có những cái tên mĩ miều, mà chỉ là tên gọi mâm xôi con gà dân dã bởi vì đó là biểu tượng cho sự no đủ, thành kính tri ân. Theo phong tục Việt Nam, mỗi khi có việc hệ trọng, trong các lễ vật thường có mâm xôi, con gà, và bốn chữ này đã thành thương hiệu cho một "báu vât". Ngoài "mâm xôi con gà", ông Nam Thành còn đang sở hữu một "hàng độc", như cây sanh dáng xiêu, thế "bạt phong đầu hồi" mà những đại gia đến thăm đã đặt tên là cây "Khủng long chúa". Cây sanh này "già" nhiều hơn "mâm xôi con gà", đường kính gốc tới 2,85m, thân cây sần sùi đầy nguyệt, mấu như but mọc, thân cây bạc phếch thời gian; bộ rễ "chảy" ra các hướng như sông, suối tìm về biển cả. Ông cũng vừa tìm được nhóm cây sanh thuộc hàng "quần thụ thân vách dáng làng", gồm 4 cây như 4 chiếc trụ cổng của làng quê Việt Nam; cây lộc vừng thân 1,05 m được mua từ Lào về; những cây hải đường, mộc lan, si, đa...đều thuộc hàng cổ thụ. Đúng là "quý hồ tinh bất quý hồ đa". - Duyên cớ nào khiến một ông chủ hiệu vàng đang kinh doanh phát đạt lại chuyển sang thú chơi cây như bậc túc nho hàn sĩ? Không giấu giếm, ông Nam Thành chia sẻ: - Gia đình tôi vẫn làm kim hoàn. Nhưng công việc kinh doanh đôi khi cũng làm người ta mệt mỏi, muốn tìm một chút thư giãn. Mà thư giãn theo kiểu nghỉ ngơi quá ư là nhàn tản thì tôi không chịu được. Người tuổi Ngọ thường thế. Quê tôi ở Bạch Hạc không có nhiều đất, nên tôi lên Vân Phú mua dần được ngót 2 ha, lại may là có tới 480 m mặt đường vành đai Khu di tích. Tôi muốn lập một "Mộc hoa trang", có nhà sàn, ao cá, vườn cây... để trong tương lai, nơi này trở thành một khu sinh thái đẹp. Cuối tháng 7 vừa qua, ông Nam Thành có chuyến xuyên Việt. Trên hành trình ấy, ông có ý định sẽ dừng lại ở Quảng Trị vài ngày để thăm "chiến trường xưa" với cao điểm 367- nơi mà năm 1972 ông đã trở thành thương binh. Rồi ông cũng muốn tìm hiểu thêm về thú chơi cây, kỹ thuật cây cảnh từ những làng nghề nổi tiếng ở Bình Định, TP Hồ Chí Minh, miệt vườn Nam Bộ... Hôm trò chuyện với tôi ở Mộc hoa trang, điện thoại của ông réo liên tục. Gia chủ phân trần: - Ông Phiến cá, ông Hải SOS, ông Trường Vĩnh Yên... rủ mang "mâm xôi con gà" đi hội chợ - triển lãm sinh vật cảnh Vĩnh Phúc. Ông Phiến còn nhắc: Ban tổ chức đã dành sẵn vị trí trung tâm, trang trọng nhất để đặt "mâm xôi" cho người đời chiêm ngưỡng... Thế mới biết, không chỉ vàng bạc mới là vật quý, đôi khi cây cỏ cũng là những báu vật trần gian... N.S {1613 chữ}
|
| Có một tình yêu |
Viết bởi nguyensan 14:08 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (1) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Phóng sự |
Đúng dịp kỷ niệm ngay thành lập QĐNDVN, báo Phú Thọ số 24- 12- 2007, chúng tôi có giới thiệu bài viếy của ông Trần Lê Hưng, nguyên đại đội phó đại đội 15, trung đoàn 18, sư 325, kể về hành động quả cảm, hy sinh trong chiến đấu của liệt sĩ Lê Xuân Đĩnh, một người con của quê hương Cao Xá, Lâm Thao. ít ai biết được rằng, trước ngày rời trường Đại học nông nghiệp I lên đường nhập ngũ, Lê Xuân Đĩnh còn có một tình yêu đẹp, đầy hoài bão và khát khao công hiến hy sinh cho Tổ quốc. Câu chuyện này do chính người ban thân thiết nhất của anh kể lại với bạn bè anh ở Trường đại học, đúng như bài thơ Kỷ niệm của trong cuốn sổ tay của anh vừa được tập hợp in thành cuốn "Nhật ký thơ thời chiến 1970- 1974".
(Xem tiếp)
|
| Con đường DƯA HẤU |
Viết bởi nguyensan 14:02 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
Phóng sự |
Huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn có hơn 90 km quốc lộ 1A cũ và mới. Đường cũ với nhiều đèo, dốc, quãng cua đang dần trở thành đường dân sinh, còn đường mới vừa bằng phẳng, vừa thoáng rộng, trải bê-tông át-phan tập trung đông các loại phương tiện tham gia giao thông. Hai bên con đường này, từ quãng cầu Chi Lăng trở lên, chúng tôi thấy trải dài hàng mấy cây số là những "chợ" dưa hấu. Lâu nay, tôi vẫn nghĩ rằng, món dưa hấu mà chúng ta vẫn thường ăn do nông dân các tỉnh phía Nam, hoặc miền Trung trồng được lưu thông ra phía Bắc.
(Xem tiếp)
|
|
| Tự giới thiệu |

Nguyễn Sản
Nhà báo NGUYỄN SẢN
Phó Tổng biên tập Báo Phú Thọ
Tuổi con Dê
Quê quán: Lập Thạch, Vĩnh Phúc
Trú quán: Việt Trì, Phú Thọ
ĐT: 0210 812 592, DĐ:0913 596 763
email: mrnguyensanbt@yahoo.com.vn
http://nguyensan.vnweblogs.com
|
| Lịch |
| « |
February 2012 |
» |
| |
|
|
1 |
2 |
3 |
4 |
| 5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
| 12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
| 19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
25 |
| 26 |
27 |
28 |
29 |
|
|
|
|
| tìm kiếm |
|
|
| bài gần đây... |
|
|
| Các góp ý gần đây |
|
|
| categories |
|
|
| lưu trữ |
|
|
| liên kết cá nhân |
- Báo chí
- Bè bạn
- Chung
- Văn học
|
| Trang chính |
|
|
| Xuất bản tin |
|
|
| Trạng thái của blog |
- Tổng số bài viết: 22
- Tổng số góp ý: 12
- Tổng số trackbacks: 0
- Tổng số lượt xem bài: 2.006
|
|